Hiển thị các bài đăng có nhãn Memories - The good old days!. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Memories - The good old days!. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Nom ba chok

 Nom ba chok, món bún dân dã phổ thông của người Kampuchia mà tên nghe thật lạ tai với nhiều người Việt mình, phải không bạn?


Tìm trên net, bạn sẽ thấy nó còn được gọi là num banh chok, nhưng tôi vẫn gọi nó là nom ba chok, lần đầu tôi biết nó là trên đường phố Bangkok, gánh bún lề đường gần Grand Palace của Thái! Nhớ lại, hai vợ chồng cùng đứa con gái, đứng giữa đường phố thủ đô Thái Lan mà mỗi người bưng 1 tô bún vừa ăn vừa húp. Có khi không ra thể thống gì nhưng quả thiệt, nó ngon lắm bạn à! Miếng ngon nhớ đời, đúng trong trường hợp của món bún có màu vàng vàng của nghệ, chan chát của riềng, dòn dòn của bắp cải trộn lẫn với bắp chuối bào, thêm phảng phất chút vị tanh của cá lóc! Thích nhưng không biết tên nó gọi là gì và cũng không màng hỏi tên nó: lúc bấy giờ chỉ nghĩ nó là món đặc biệt của người Thái và có khi không nếm lại được nếu không du lịch trở lại Thái!

Vài năm trôi qua, tình cờ A con gái tôi có người bạn gốc Kampuchia có lần nấu cho ăn món tương tự như nom ba chok nhưng nấu với thịt gà thay vì cá lóc! A hỏi và cô này gởi về cho tôi 1 phần ăn: Đậm đà hơn lần ăn bên Bangkok nhưng thiếu chút vị của cá!!! Chính cô bạn này của A đã cho biết tên của nó là nom ba chok!

Hỏi kỹ ra: món này gốc từ Kampuchia và đối với người Kampuchia nó như phở hay hủ tiếu của người Việt! Họ ăn sáng, ăn trưa cả ăn tối với món này, lúc nào thời điểm nào cũng hạp nhưng vẫn thích hợp nhất là vào buổi sáng! Thái Kam Lào là ba nước có chung biên giới, cùng chung nền Phật Giáo Tiểu Thừa và văn hoá tương tự nhau nên không lạ gì món nom ba chok có mặt trên cả 3 quốc gia này nhưng Kampuchia mới là nơi khai sinh của nom ba chok!

Từ đâu cũng không quan trọng với tôi vì tôi chỉ là 1 thực khách tầm thường chứ nào phải là một chuyên viên ẩm thực! Món ăn ngon, hạp khẩu vị là đủ cho tôi rồi! Và may thay, vùng tôi ở tập hợp gần đủ các sắc dân đến từ Đông Nam Á, nên việc muốn ăn một tô nom ba chok với tôi bây giờ không còn khó tìm như dăm muời năm trước! Có điều, cuộc sống tại Úc quá đầy đủ, thực phẩm dư dã nên tô nom ba chok mang về từ nhà hàng Pnom Pênh vùng tôi nó to, nước lễnh loãng chứ không nhỏ nhắn, đậm đà để khi ăn xong vẫn còn như thòm thèm chưa đủ, như tô nom ba chok tôi có dịp ăn mấy chục năm trước đây!!! Có khi người bán đã cho thêm nước dùng cho tôi. Vì như 1 tình cờ, người chủ tiệm là người tôi quen, cả chục năm về trước bây giờ mới gặp lại!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Nhớ Đà Lạt, nhớ Franciscaine, nhớ.... cà ri dê!!!

 Mưa tầm tả....mưa lê thê..... mưa làm mình nhớ lại những ngày xưa!!!


Ngày ở Đà Lạt, tôi là một học sinh nội trú trường đào tạo thương mại Franciscaine do các soeurs dòng nữ Francisco điều hành. Gần đây, đọc một bài báo nói về ngôi nhà nguyện, giáo đường nhỏ của nhà dòng bị bỏ hoang. Biết bao kỷ niệm chợt sống lại, thấy lòng rưng rưng....

Khu nội trú Franciscaine rất đẹp, kiến trúc cổ kiểu Gothic với những góc tường xây một phần bằng đá tảng, rất đẹp, rất Tây, rất....Đà Lạt!

Thời tôi ở đấy, khu nội trú chỉ có 1 tầng trệt và 2 tầng lầu: tầng trệt với những khung hành lang cách sân bằng những bức tường với vòm cong kiểu La Mã. Văn phòng, phòng ăn, phòng sinh hoạt của các học sinh nội trú nằm ở tầng này! Tôi nhớ, không biết bao nhiêu lần tôi bị gọi vào văn phòng bởi soeur Antonia về tội....chạy đùng đùng lên phòng ngủ trên lầu thay vì...đi khoan thai! Soeur Antonia là soeur giám thị già có khuôn mặt nghiêm khắc ít khi nào thấy nở nụ cười.. Văn phòng nằm ngay chân cầu thang dẫn lên lầu một là khu phòng nội trú. nên muốn về phòng là phải ngang qua văn phòng! Khổ, tôi lúc bấy giờ cá tánh lung lăng lại không thích bị gò bó nên mỗi lần về phòng là chạy cho nhanh, mà nhanh cỡ nào cũng không thoát khỏi bị soeur Antonia gọi lại, bắt phải đi chậm lại, cho ra dáng khoan thai nhu mì!!! Có lần tôi cãi soeur, bảo con đâu phải đi tu mà soeur bắt con khó thế!!! Lần đó, hình như trên môi soeur có thoáng 1 nụ cười....tuy rất mờ nhạt! Sau đó, hình như tôi ít bị gọi lại hơn và hình như soeur đổi vị trí bàn làm việc của soeur quay vào phía trong và đưa lưng ra cửa nên khó bắt gặp lũ chúng tôi chạy rầm rập về phòng hơn hoặc có bắt găp thì cũng không kịp gọi để phạt!

[Image: 51054227557_5c66186bcd.jpg]
Ghi chú: trong hình, góc trái là văn phòng. Hình bên phải, toà building phía hậu cảnh chính là toà nhà nội trú. Ngày xưa lúc tôi ở đó chỉ có 2 tầng, trong hình có thêm một tầng thứ ba nữa!)

Nếp sống nội trú, đối với tôi lúc bấy giờ thật lạ lẫm nhưng đầy thích thú! Mặc dù thoát khỏi sự kiểm soát của gia đình nhưng vẫn bị đặt dưới sự kiềm toả của các soeur! Mà tính cách tinh nghịch tuổi học trò, càng bị buộc càng tìm cách vùng vẫy! Tôi nhớ, lúc đó sau giờ ăn chung dưới phòng ăn, về phòng rồi là ngoài những thứ ăn vặtcho khỏi buồn miệng, tuyệt đối không được mang thức ăn nóng hoặc có mùi gây khó chịu vào phòng ngủ! Bọn chúng tôi, một phòng 4 đứa thì gần như đứa nào cũng có mang theo 1 resistant cắm vô ly để nấu nước sôi (ăn mì gói!) Có nhiều khi, cắm phích nước vừa sôi, cho gói nêm, mì vào ca thì nghe tiếng chân! Vậy là đem ngay ca mì dấu vào gầm tủ, nhào lên giường kéo mền đọc sách hoặc nhảy vào bàn giả vờ chăm chú học! Tôi vẫn nhớ hình ảnh soeur Cecilia Phương, trẻ, nét đẹp dịu dàng, nói tiếngTây dòn rụm như bắp rang bước vào phòng nhìn quanh quất, mũi thun lại hít hít mùi (mì) vẫn phảng phất trong phòng! Trời Đà Lạt lạnh, mùi vị vương trong phòng kín lưu lại rất lâu! May mà soeur vốn dễ tính, sau khi răn chúng tôi vài câu soeur rút về phòng, khu biệt lập trên lầu trên cách khu nội trú 1 sân thượng rộng, buổi tối có thả đàn chó Dalmatians (mà các soeur gọi tiếng Pháp là chó Danois!) dữ vô cùng làm hộ vệ canh an toàn cho các nữ tu!

Ngày Chủ Nhật, chúng tôi dĩ nhiên đi lễ ở căn nhà nguyện nhỏ nhưng ấm cúng nằm trong khuôn viên khu Franciscaines. Nhà nguyện do 1 vị linh mục chăm nom, cha ở 1 căn nhà nhỏ gần nhà nguyện, có 1 soeur già (Soeur làngười Việt hồi hương từ Campuchia nên nói tiếng Việt không rành, chỉ lơ lớ)- lo việc cơm nước cho cha. Một điều về cha khiến tôi nhớ đến bây giờ: Mỗi khi ghé nhà thăm, nếu chúng tôi (lúc đó là một lũ con gái mới lớn!) đi thành nhóm đông, gọi cửa cha mới mở tiếp chúng tôi. Còn đi một hay 2 đứa thì dù có nhà cha cũng không bao giờ lên tiếng hoặc mở cửa: Đó là hạnh tu hành, giữ gìn hình ảnh khả kính của vị linh mục khỏi điều dèm pha!

[Image: 51054147351_c334fa482c.jpg]
Nơi nhà ăn và là nhà cha coi sóc nhà nguyện Franciscaine

Cuộc sống nội trú tại Franciscaine cũng tập cho tôi cách sống tự chủ, tự chăm sóc lấy bản thân: mỗi nội trú sinh tự mang theo 1 bộ dao muổng nĩa để ăn và sau khi ăn, tự rửa dọn bộ dao muỗng của mình, các dĩa, ly, tách sẽ được dọn rửa bởi người phụ trách nhà ăn. Dĩa, ly, dao muỗng nĩa là bởi Franciscaine ăn theo Tây, chỉ xử dụng dao nĩa và dĩa, ly chứ không dùng chén hoặc đũa! Cái đôi đũa, bình thường mình đâu để ý gì đến nó mà khi chỉ xài dao nĩa thì nhớ nó vô củng! Nhớ đến đỗi bọn tôi hay dùng đó như cái cớ để cuối tuiần được phép đi chơi (mà tôi gọi là xổng chuồng) bọn chúng tôii hay kéo ra chợ Đà Lạt để ăn hàng, dĩ nhiên là ăn bằng đôi đũa! Việc mỗi sáng thức dậy tự mình làm giường của mình với quy định ra khỏi giường thì phải phủ tấm couvre de lit lên và không được nằm lên trên: đó cũng là một điều hết sức mới lạ đối với tôi! Thế là tôi tự nhiên siêng năng làm giường, hơi cực nhưng chỉ để chứng tỏ mình cũng là 1 quý cô con nhà nền nếp Big Grin . Ở nhà có bao giờ tôi chịu tự mình xếp mùng mền cho chính mình???

Đà Lạt là xứ lạnh, nên mỗi tuần chúng tôi chỉ có 2 ngày được tắm gội bằng nước nóng: Nhà bếp sẽ nấu những nồi nước to tướng dưới hầm nhà, bọn tôi chia giờ nhau đi tắm gội, múc nước nóng pha vào những cái thau lớn trong phòng tắm. Tắm xong thì lo giặt giũ, phơi phóng trên nóc sân thượng thông qua nhà soeurs. Những ngày ấy các soeurs xích bọn Danois lại chứ không thì bọn tôi chẳng dám lai vãng qua sân!!!. Sau này, tôi tìm được lối lên rầm thượng (attic) trên lầu, chui qua khung cửa nhỏ là có thể trải quần áo phơi ngay trên mặt sân xi măng, không lo rủi ro chạm mặt với bọn Danois nếu ngày ấy chúng tôi lấy quần áo trễ hoặc bọn chúng được thả ra sớm!!!

Nhưng Franciscaine còn làm tôi nhớ đến...cà ri dê!!! Kỳ vậy?

Khu Franciscaines nằm gần khu Trại Hầm (là khu vườn mận Đà Lạt Trại Hầm nổi tiếng!). ba tôi có người bạn là bác Ba Xây! Nếu bạn thích và có xem cải lương chắc hồi xưa có lần nghe tiếng bác: Bác vốn là kép phụ trong đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga. Là kép phụ lại không nổi tiếng nên bác không được xếp vai thường xuyên. Để mưu sinh, bác làm tài xế lái xe lô Minh Trung tuyến đường Sài Gòn Đà Lạt. Con gái bác là chị Lệ, bạn học chung với chị Năm tôi phân khoa Chính trị Kinh doanh, Đại học Đà Lạt. Có lần ba tôi lái chiếc Peugeot mới sắm lên Đà Lạt thăm chị em tôi, bác đưa ba và chúng tôi đi vòng khu Trại Hầm tới ăn cơm cà ri Ấn chính gốc, người chủ - theo lời bác - có bà con, hình như là anh em họ hàng chi đó với kép Thành Được! Các món ăn tại quán này rất ngon, tôi nhớ nhất là món cà ri dê và gỏi tái dê mà ở Sài Gòn không tìm ra nơi nào nấu giống vậy. Sau này, tìm được một quán Ấn ở đầu đường Tôn Thất Đạm, ngó ngang chùa Bà nhưng cũng không bằng cà ri và gỏi dê Đà Lạt, chỉ có món cà dĩa muối vị cà ri là ngon đặc biệt mà sau này tôi cũng không tìm ra tiệm nào khác có món cà muối này, kể cả sau này tìm trên internet cũng không có foodblogger nào có cách làm để học!

Từ Đà Lạt đến Franciscaines, rồi đến dĩa cà ri! Chẳng qua hôm nay tôi nấu món cà ri Ấn ăn kèm cơm nị!!! Một chút đó cùng với bài báo và những hình ảnh điêu tàn của một nơi tôi từng ghi lại chút dấu chân, từng gây ấn tượng đẹp biết bao nhiêu thời điểm đó. Nay còn gì đâu ngoài những sụp đổ, rêu phong??? Còn lại phải chăng chỉ là những ngậm ngùi, tiếc nuối??? Như Đà Lạt chỉ còn là ngậm nùi tiếc nuối trong tôi.

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Rau cần nước xào cá ám

 Mẹ chồng tôi, tôi nhớ nhất ba món ăn bà nấu cho tôi ăn: Sườn non băm nhuyển kho thật khô với muối, bồn bồn nấu cua đồng và rau cần xào cá ám.


Món cần nước xào cá này, hồi đó mẹ chồng hay nấu cho ăn. Gọi là cá nấu ám. Nghe mẹ chồng chỉ, nấu cháo cá cho cần nước vô cũng ngon lắm. Đi Hà Nội 1 lần, hai vợ chồng thích ăn cơm bình dân đầu ngõ con đường (Hàng gì đó, quên mất rồi! mười mấy năm, hay là trí nhớ bị thuốc ngủ phá mất rồi???) vì vị chân chất giống như hồi đó mẹ chồng nấu chứ không phải vị cải biên, toàn những món nhớ của ông ấy: Chả rươi, đậu nhồi, đậu chiên chấm mắm tôm.....nhất là rau cần xào. Thèm ăn cá ám, đưa tiền nhờ người chủ mua con cá lóc và rau cần về xào giúp, tối hôm sau đi chơi về sẽ ghé tiệm ăn. Khi họ dọn dĩa rau cần xào cá lên chiếc bàn nhựa thấp lủm chủm đúng điệu quán ăn chồm hổm bình dân trên bất cứ nơi nào trên đất Việt, hai vợ chồng nhìn nhau: một dĩa đầy tú hụ, toàn cá là cá chỉ thấp thoáng vài bóng xanh của rau!!! Mới nhận ra tính lương thiện của nhà chủ: họ xào con cá lớn, ít rau cho đúng với số tiền chúng tôi đưa gởi chứ không nhiều rau ít cá để bớt được tiền chợ! Họ biết đâu rằng, chúng tôi thèm là thèm rau chứ không phải thèm cá: bên này thịt cá không thiếu chỉ thiếu những cọng rau cần dài, trắng muột ngọt và thơm chứ không xanh với vị đăng đắng như rau cần nước bên này! Ấy là nếu chúng tôi mua được cần nước vào thời điểm bấy giờ.

Bây giờ thì khác rồi bạn ạ, bây giờ, những bó rau cần nước đã có cọng dài hơn lá và trắng nhiều hơn xanh. Vị cũng thế, đã ngọt và thơm chứ không đắng như cọng cần những năm đó. Với chưa đến 5 đô la, tôi đã có thể xào được một dĩa rau cần dư cho cả hai vợ chồng ăn mà không cần phải độn thêm rau muống dai nhách vì nghịch mùa. Thêm nữa, tuy không có cá lóc nhưng may mắn tôi mua được cá monk fish filet thịt trắng nõn và không tanh, dự tính sẽ làm bún chả cá theo kiểu nhà hàng Lã Vọng nhưng vội đổi ý định khi nhìn thấy rau cần. Rau cần xào cá ám, đúng kiểu mẹ chồng tôi, sau khi bắt xuống còn nóng phải cho ngay tỏi băm vào: mùi tỏi sẽ đánh bay mùi tanh của cá nếu có!

[Image: 50335707576_7733119359.jpg]

Khiến tôi nhớ lại những trao đổi giữa tôi và một người có thể tạm gọi là bạn văn gốc Bắc sống tại nước Đức về một đoạn văn ngắn tôi viết trước đây, nói dùm tâm trạng ông nhà tôi lúc ấy:

Nhà

Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, hàng xóm láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: "Ông đi du sơn du thủy, thế tất đã thấy nhiều cảnh đẹp, thế ông cho nơi đâu là thú hơn cả?" Người đi du lịch đáp: " Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú cho bằng lúc tôi trở lại chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỹ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được
(trích Trần Trọng Kim: Chỗ quê hương là đẹp hơn cả, sách Quốc Văn giáo khoa thư)

Người bạn ấy sau khi đọc những dòng mở đầu trên đã viết:

"Không biết chính xác cái ông Trần Trọng Kim là ông Kim nào . Chỉ đoán mò : Khi ông ta viết lên những dòng kia , có lẽ ông ta cũng đã có tuổi một chút rồi thì phải ? Bởi từ một thời gian gần trở lại đây , dẫu không được thật là lai láng như cái tâm sự mà ông ta diễn tả , nhưng Thằng Xe thấy trong nó cũng có những cảm giác từa tựa như thế . Chẳng còn mấy thú vị đi chơi những xứ xa lạ nữa , chỉ còn thích mỗi về lang thang và ngắm nghía ở xứ Kinh mà thôi . Mặc dù cho đến giờ , để trả giá cho cái thú mỗi lần về thăm quê hương đều là :

" Trong gánh buồn này , trĩu thêm vào mấy phần vô vọng .
Trên manh hồn kia , bươm ra vài tơi tả xót xa " .

Cho nên lũ trẻ háo hức bay nhảy thấy thế thường bảo : - " Ông này lẩm cẩm rồi ! " . Chẳng biết có phải không nữa ????"


Và đây là đoạn tôi đặt vào tâm trạng của ông nhà tôi khi đặt chân lên đất Bắc, trả lời người bạn ấy:


"
Có lẽ tại bọn trẻ chúng nó chưa từng qua những cái tết nơi xứ người, khi mà thay vì quây quần cạnh Cha Mẹ thì lại phải thức sớm trong cái giá mùa đông lăn xả vào đời để kiếm sống Bác ạ! Cái gì chưa mất thì chưa thấy tiếc, chỉ biết tiếc khi mọi việc quá muộn màng!

Đâu có ai quay ngược được thời gian? Chỉ là giả tưởng!!!

Mà tôi đồ rằng, cái nhà ông đi nhiều kia cũng không già mấy! nên khi ông trở về nhìn thấy bờ rào nhà ông, khi đó chắc Cha ông còn ngồi uống trà trong gian giữa, Mẹ ông thì đang lúi húi nấu ăn sau bếp hoặc bận bịu sau vườn, đang cho lợn ăn hay tưới mấy liếp rau! Ông chỉ cần buông giỏ xuống và thưa lớn lên rằng: Thưa Thầy Mẹ con đã về đây ạ!

Còn như tôi đây, khi nhìn thấy lại cái dậu nát nhà tôi, thì Cha Mẹ tôi đã khuất bóng, anh em tôi tản lạc! Tôi không biết nếu trong tâm cảm như tôi ông Kim sẽ viết như thế nào?? Tôi thật khó mà tìm ý viết tiếp sau đoạn Nhà này mà không rơi vào mê cung!!! Nghĩ lại chắc trở về nhà rồi thì tạm ngưng cũng tốt!"


Đó là cá ám. Còn 2 món kia sau 75 vợ chồng tôi bế thằng con đầu lòng về thăm thầy mẹ. Từ Trung chạy giặc vô Long Khánh, định cư một nơi cũng khô cằn sỏi đá không kém miền đất vừa chạy thoát vào đây. Nơi đó cũng chẳng có gì ngoài nắng, gió cát và ....khoai mì..... trùng trùng điệp điệp khoai mì! Tôi nhớ, mẹ chồng tôi nấu nồi canh bồn bồn với chút cua đồng, cơm chiều chỉ có 1 món đó mà ăn bát canh ngọt bùi như bát súp măng tây!!! Chỉ 1 lần đó thôi, không có lần thứ nhì tôi được ăn canh bồn bồn trở lại! Còn món thứ ba là sườn bằm nhỏ kho muối, mẹ chồng làm lúc tôi sinh cháu A, bảo" gởi cho mẹ nó ăn cho chắc bụng" vì lúc đó là thời ngăn sông cấm chợ, thịt mua mỗi lần từng 100 grs, vải thì cấp một năm một nhân khẩu 1 thước vải Nam Định khổ hẹp 6 tấc chưa đủ để may 1 ống quần dài cho phụ nữ hoặc 1 quần xà lỏn cho nam giới!!! Không hiểu làm cách nào, mẹ chồng tôi băm nhỏ miếng sườn heo với con dao phay cùn mà ăn vào không hề lộm cộm! Bên này có lần tôi tự dưng nhớ đến mẹ chồng, cũng mua miếng sườn thật ngon, đắt tiền hơn cả thịt nạc về bỏ vào máy xay mà không thể ăn được vì những miếng sụn cứ vướng vào răng!

Kỷ niệm của tôi về mẹ chồng chỉ có bấy nhiêu. Không nhiều vì tôi không phải làm dâu nên không gần mẹ chồng nhiều. Nhưng chút đó cũng đủ để tôi còn giữ về mẹ chồng chút nhớ. Để hôm nay tôi có thể kể cho bạn nghe về món cá nấu rau cần này đây!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Cháo cá giò heo và nổi oan con cá sạo!

 Bạn nấu cháo cá với cá Tilapia mời!


[Image: 121-FCF67-7-D58-477-E-A7-C8-3607-FD69751-E.jpg]
(Hình: Cinnamon a.k.a Quế)

Tô cháo cá thịt trắng bong, gạo nở nhừ mềm mại chợt nhắc tôi nhớ tô cháo cá giò heo ba tôi rất thích. Và như thế, thêm một âm bản được dựng lại thành dương bản trong ký ức tôi, hôm nay một ngày lạnh!

Như bạn vẫn biết, ba tôi người Nam. Cháo cá nhà tôi, khi nấu với cá đồng thường là nấu với cá lóc nhưng khi nấu cháo cá giò heo, phải là cá biển. Và là loại cá có thịt trắng, ít xương và béo như cá mú hay cá sạo. Má tôi hay dùng cá sạo hơn có lẽ cá vửa lớn đủ để béo và mang về nhà làm còn cá mú quá lớn, cá nhà vựa không thể chặt khúc lấy lát như cá các bà bạn hàng mua về sạp bán lẽ.

Con cá sạo này cũng có câu chuyện vui trong nhà! Má tôi, một người ít học ít chữ chỉ biết ký tên mình bằng chữ quốc ngữ với nét xiêu vẹo mà mỗi lần làm cá sạo hay có ai hỏi tại sao là cá sạo thì lại phải nhắc:

- Nè, là con cá sạo nha, chữ ét sờ (s) chứ không phải con cá xạo chữ ích xì (x) dâu nha! đừng có giống ông S mà tưởng tui chửi xéo là xạo rồi giận hờn đó nha!

Chuyện nổi oan con cá sạo bị đọc thành cá xạo, tôi không nhớ đã kể cho bạn nghe chưa. Nhưng nếu rồi thì kể lại cũng vui thôi!

Hồi còn trẻ ba tôi có ông bạn giang hồ tụi tôi gọi là bác hai S. Bác hai vài ngày lại ghé nhà tôi ăn cơm với ba má tôi 1 lần. Má tôi không kể là hồi đó có bao nhiêu đứa con rồi, nhưng má tôi kể một bữa má tôi bắt con cá sạo nấu canh ngót nhà ăn, Cá thịt trắng bong mà do tay nhà nghề bắt nên thịt rất béo! Bác hai thích, hỏi cá gì, má tôi trả lời canh ngót nấu với cá sạo đó anh hai. Vậy mà má kể ổng buông đủa xuống, đội nón lên bỏ ra về một nước thây kệ chén cơm đang ăn bỏ mứa nửa chừng!!! Vài bữa sau ba tôi mới kể ổng trách ba tôi, nói má tôi khi dễ nói ổng xạo!!! ba tôi phải giải thích là con cá đó tên là con cá sạo với chử ét sờ chứ không phải nói anh xạo là ích xì!!!

Như vậy là nổi oan con cá sạo đã trở thành nổi oan của má tôi, và má tôi phải học từ ba tôi để nhớ con cá sạo viết bằng chử ét (s)!

Cá sạo, sau khi làm sạch, nhà có con nhỏ nên má tôi để dành cái đầu nấu canh ngót hay canh chua (hay canh sún) còn thân thì để nguyên chứ không khứa ra, đem luộc nguyên con khi chín vớt ra gỡ nguyên xương sống ra bỏ sẽ không bị xương vụn rớt ra khi nấu cháo. Cá sạo thịt dẽ nhưng dai nên gỡ ra thành miếng lớn không bể vụn, đem xào với củ hành, nêm mắm muối hành tiêu rồi để qua bên chờ khi ăn sẽ ngã cá vô cháo.

Cháo thì má tôi hay bà ngoại rang gạo với tỏi cho vàng thơm (đó là tại sao tới bây giờ khi nấu cháo gà hay cháo cá tôi vẫn giữ thói quen rang gạo với tỏi!). Giò heo cạo rửa sạch nấu mềm, vớt ra xắt lát cho trẻ con trong nhà dễ ăn còn móng thì chặt nhỏ để dành người lớn.

Tô cháo cá của ba tôi, luôn phải có thêm bún và nhất là phải có tương hột, giá trụng cùng rau thơm đầy đủ. Không cần ớt xay ớt xắt gì hết vì ba tôi sẽ cầm nguyên trái ót hiểm nhỏ xíu mà cắn một miếng hết nửa trái rồi húp một muổng cháo thơm lừng đủ vị, cái nóng của cháo hoà cùng cái cay của ớt làm mồ hôi đổ hột lấm tấm trên trán, trên mũi ông!! Tới bây giờ ông nhà tôi mỗi khi nhìn thằng em út của tôi ăn món cay món nóng, mồ hôi cũng lấm tấm đổ hột giống hệt ba!!!

Dĩ vãng, dù đã lui khuất nhưng luôn luôn vẫn để lại một dấu vết cho tương lai!!!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Tô chiết yêu và món mặn món ngọt!



Tôi có tật - không biết có đủ lớn để bị chê là không biết hưởng hay chỉ là vấn đề tự kỷ: Tôi không thích món ăn mặn mà lại có những nguyên vật liệu món ngọt trong đó, ngoại trừ nước cốt dừa!
Tật vậy, nên tôi không thích canh bí đỏ hầm dừa hay món bánh tầm bì chan nước cốt dừa! Uả mà tôi ăn được nước cốt dừa trong món mặn mà? cà ry đó kìa? Tép rim nước cốt dừa kìa? Nào tôi có chê, còn mê nữa là khác! Nhưng mà cà ry gà thì đâu có chan thên nước mắm vô như bánh tầm bì? và tép rim nước cốt dừa thì đâu có từa tựa chè khoai lang bí như món bí hầm dừa???? Hmmmm..... cũng là tự kỷ!!!

Nhưng đó là chuyện của xưa! của "Diễm"! Còn bây giờ thì tôi đã biết ăn bánh tầm bì rồi bạn! cũng do đói mà ra hết!

À, nói cho rõ để khỏi mang tiếng oan cho người ta! tôi đói đây "tụi họ" không có công cán gì hết! Đói là do một ngày kia trên quê hương mới này, lo chợ búa mà quên lo cho chính mình! Đến khi chợt nhớ thì trong nhà không còn món gì ăn! hề gì!!! nhà gần chợ chạy ra một chút tốn thêm tí tiền là ấm no ngay lập tức!!! Vậy mà không!!! những ngày lễ, thức ăn làm sẵn bán chạy như tôm tươi! Các món tôi thích như xôi, bánh cuốn, bánh gì gì cũng hết, chỉ còn lại một hộp bún bì trên bàn! Vậy là bún bì, hôm nay tôi ăn bún bì!!!!


Thấy vậy mà không phải vậy!!! về nhà, khi lập cập mở hộp và cho bún vào tô để ăn - đói quá rồi! - tôi mới thấy những cọng bún lớn, thật lớn so với cọng bún bì hay bún bò Huế, lớn và mập tròn gần giống cọng bánh canh, màu lại trắng đục chứ không trong như bánh canh. Kèm theo trong hộp lại có thêm gói nước cốt dừa nằm khép nép dưới mấy cọng giá và rau thơm!

Thôi rồi! chính nó rồi! Nó không phải là bún bì hay bì bún mà đích thị bánh tầm! Tầm gì thì tầm, không thích tầm và chưa từng ăn tầm cũng phải ăn ngày hôm nay, đói quá, tầm vẫn tốt hơn mì gói!!!

Halleluja!!!!! mèn ơi nó ngon!!! Mùi thính thơm trong bì heo không lấn át mùi thơm của những cọng rau mà nó hoà hợp cùng nhau tạo thành một mùi vị mới, tăng thêm khẩu vị nhờ cái béo của nước cốt dừa và chút hương thoang thoảng của hành lá!!! Cọng bánh tầm lớn nhưng không dai như cọng bánh canh nên khộng làm tôi lúng túng khi nhai chung với bì, ngược lại bánh tầm thì bùi và bì thì dòn và hơi dai sần sãt!!

Bấy giờ tôi tiếc!! giống mấy ông ăn thịt chó muộn ngày xưa tiếc không còn bao nhiêu năm sống để còn được ăn thịt chó dài dài...Tôi tiếc phải chi tôi đừng bị cái thành kiến mặn và ngọt nó kềm giữ cái tánh tham ăn của tôi từ nhỏ thì tôi đã được ăn những tô bánh tầm bì ngon tuyệt vời của dì Ba Lem hồi đó!!!!! Bây giờ nhớ lại còn hình dung ra tô bánh tầm dì Ba: Bánh tầm dì se tay, nhỏ ngắn và có đuôi như cọng bánh lọt chứ không dài ngoằn như bánh tầm ép máy bây giờ! cọng bánh ngắn nên tôi thấy má tôi và mấy bà chị ăn rất gọn, cuối tô thường bưng lên và cái rột vừa bánh tầm còn sót, vừa bì và nước cốt dừa, nước mắm đều theo cái và đó mà chui vào bụng thành cái big bang cuối cùng! tôi nói big bang, là thường sau đó má tôi hay mấy bà chị thường đặt tô xuống, hà một cái thiệt là đã!!!!

Bánh tầm bì thì tôi đã biết ăn rồi, nhưng có một món vừa mặn vừa gọt tới bây giờ tôi vẫn chưa ăn được - và không có ý thử để tập ăn cho biết, đó là một món có liên quan đến bí đỏ và nước cốt dừa: món kiểm!

Kiểm, là một món ghi đậm trong trí nhớ tôi từ hồi mới bảy, tám tuổi hay có khi còn từ trước đó nữa!

Ba tôi vốn người miền Nam, quê nội tôi ở Vĩnh Long, người miền Nam gọi thàng hậu là xứ Vãng! Đâu có gần khu đông người Miên (bây giờ gọi là Khờ Me, tôi cứ quen gọi là Miên như xưa nay vẫn nghe chứ không có chút khinh thường nào trong chữ "Miên" đó hết! M iên, là vì họ người Miên! giản dị vậy thôi!!). Vậy mà ba tôi có quen khá thân với một gia đình có lẽ có gốc Miên mà ba tôi gọi là cậu Bảy và bắt tụi xây lũ cố tụi tôi gọi là Ông Nội (ông bà nội ruột của tôi mất lâu lắm rồi, trước khi có tụi tôi lận!)

Nhà ông Bảy nằm cạnh bờ một con rạch nhỏ gần cầu chữ Y. Ngày nay cầu chữ Y chỉ cần quăng một cục đá từ phía đường Trần Hưng Đạo là tới chứ không xa Sài Gòn như tôi tưởng lúc còn nhỏ! Một năm vài lần, khi nhà ông bà Bảy có giỗ quảy hay tụi tôi có đứa nào bệnh là ba tôi chất tụi tôi trên hai chiếc xe xích lô máy vô thăm. Đường đi như xa lắm hồi đó: ngồi xe xích lô máy, con đông nên đứa ngồi trong lòng má đứa ngồi dưới càng xe, xe chạy xóc tưng lên hai tay lo nắm chặt lấy cảng xe trước càng cho thiệt chặt như nắm sinh mạnh chính mình. Qua những căn nhà có vườn cây âm u mới tới nhà ông bà Bảy. Nhà cạnh con rạch nên sau nhà chỗ làm bếp là một căn sàn nhỏ bắt de ra rạch! Nơi đó, thường trong các món bà Bảy nấu cho nhà tôi ăn phải có món kiểm! Tụi nhỏ tụi tôi thường được giao cho lột vỏ mấy hột đậu phộng nấu mềm để thả vô nồi kiểm mà sau khi tụi tôi giao lại chén đậu thường là hao hơn phân nửa: phần bể phần thảy vô miệng nhai cho nó bùi!!! Món kiểm này bà Bảy thường dọn trong những cái tô chiết yêu, không phải loại tô kiểu khỏ nghe bong bong mà là loại tô sành thô, tô đá!

Bạn hỏi tôi tô chiết yêu, loại tô kiểu nước sứ trắng trong mỏng dính khác gì với tô chiết yêu sành thô tháp? Chiết yêu thì cái tô nào mà yêu không chiết?

Thì tụi nó khác nhau ở chổ đó đó: sứ và sành! Trong khi tô sứ mỏng, thanh, với những hình vẽ bằng men lam, đặc biệt chắc đồ của nhà giàu nên cái bụng tô phần nằm dưới cái eo to hơn tô đá!





(Hình nguồn: Cinnamon a.k.a Quế)

Trong khi đó, tô chiết yêu bằng đá hay sành thô thường hình dạng nhỏ nhắn hơn tô sứ nhiều và phần bụng bên dưới eo sâu hơn nên cao hơn phần bụng của tô sứ còn phần loe trên miệng rất khiêm nhường.

Sau này lớn lên, và gần đây tôi có đọc một bài về tô chiết yêu mới biết: tô chiết yêu thường dùng để đơm thức ăn cúng và loại tô đá của nhà bình dân có bụng cao hơn là để chứa thức ăn ít hơn so với cái nhìn tổng thể từ phần loe của miệng tô sẽ thấy cho cảm tưởng thức ăn đựg trong tô nhiều hơn! Như vậy tô thức ăn cúng lên bàn thờ vẫn thấy nhiều đầy đặn mà thực sự không được nhiều như thế!!! Có phải chăng đây là do lòng hiếu của con cháu tuy nghèo vẫn lo giữ thể diện cho ông bà trong mâm cơm cúng???

Bạn nhớ một chi tiết: ông bà Bảy có gốc Miên? và tụi tôi bị lùa vô nhà ông bà Bảy mỗi khi có đứa nào bệnh???

Không biết hồi đó bác sĩ Tây Y hiếm và mắc tiền hay là chút tin tưởng có phần hơi dị đoan của ba má tôi mà tôi nhớ mỗi lần vô nhà ông bà Bảy là sau khi ăn uống xong thể nào ông Bảy cũng dắt tụi tôi lên gian nhà chính có bàn thờ. Ông đốt nhang, lấy ra một mâm trên để giấy mỏng màu vàng cắt dài như sớ. Xong ông cầm viết lông và viết ngoáy lên đó những hình vẽ loăng quoăng mà ba tôi gọi là là "khoán"! Khoán xong, những lá sớ này sẽ được ông cầm trên tay mà đốt và quơ quơ trong khi miệng ông đọc lầm thầm thần chú chi đó! Trước khi lá sớ hoàn toàn cháy thành tro, ông thả mớ tro giấy chưa tàn hết này vào chén nước và biểu con bệnh (là đứa nào trong số tụi tôi hôm đó không may bị ể mình!) bưng uống hết! Trời đất ơi!!! Hôm đó nếu là ngày tôi không bị bệnh thì thiệt là đại cát!!!!

Phần riêng ông anh tôi, là ông con trai cầu tự có sau một dọc ba bốn bà con gái thì không có ngày nào là ngày đại cát hết: Dù không bị bệnh, lần nào ông anh này cũng bị bắt uống 1 chén nước tro và luôn luôn được khoán riêng một thửa bùa gói lại cẩn thận trong 1 bao vải đỏ nhỏ và đeo lên cổ bằng sợi dây bện ngũ sắc. Miếng bùa đeo bằng sợi dây chỉ ngũ sắc này gọi chung là sợi dây niệt!!!! Niệt của ông Bảy chắc không linh, vì ông anh này khi chơi đùa luôn luôn bị nhỏ em gái kế là con Bảy ăn hiếp tới khóc dài dài......Hổng biết trong lòng ổng lúc đó có thầm ước sau này nếu được trở lại làm anh em, cho nó làm anh sáu như nó muốn để ổng làm con bảy. Còn có cơ hội mà ăn hiếp nó trả lại thù này.....😆


NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Cá!



Thạch Sùng mà thiếu mẻ kho!
Nhà ba má tôi không phải dinh cơ của Thạch Sùng nên mẻ kho nhà tôi vốn không thiếu, nhiều nữa là đằng khác! Có gì đâu: bữa nào lạt miệng, ba tôi biểu má tôi rót chút nước mắm kho vô cái tô đá, cũ cũ cũng được mà mẻ miệng cũng không sao, rồi cho vô tô một chút mỡ nước mới thắng bữa trước kèm theo câu dặn dò: " bà nhớ múc vô đó chút tóp mỡ nha!" rồi đem kho quẹt để ba tôi ăn cơm.

Tiêu là thứ ba tôi không bao giờ dặn má tôi thêm vô tô nước mắm mẻ miệng đó nhưng trăm lần như một, sau khi mẻ kho nước mắm sôi sục sục trên bếp than hồng rồi đặc quánh lại, lúc nào má tôi cũng lẹ tay cho vô nhúm tiêu mới giã xong thơm ngào ngạt rồi mới bắc mẻ kho quẹt xuống. Ba tôi quẹt mắm ăn với cơm nấu vừa chín tới, cắn thêm miếng dưa leo dòn rụm rồi cắn thêm miếng ớt hiểm! Ớt cay cộng với cái cay của tiêu hợp cùng khí hâụ nóng bức của miền Nam làm mồ hôi ba tôi lấm tấm trên đầu mũi, nhiều khi ba tôi phải vừa ăn vừa vói lấy khăn lau mồ hôi trên trán. Món ăn giản dị chơn chất vậy mà hôm nào có bần do bác tôi hay cô tôi đem từ dưới quê lên hoặc có bà con ngoài Huế vô mang theo vả biếu là ba tôi ăn rất mạnh miệng!

Mẻ dùng để kho thường là tô đá sành thô nên rất mau bể, kho được vài lần là nứt vòng theo vạch mắm kho trong tô rồi rớt nguyên cái khu! Nhằm nhò gì! nhà con đông, chén bát trong chạn tối ngày khua rổn rảng, tô mẻ chén mẻ tha hồ đem ra làm mẻ kho, tốn kém bao nhiêu mà sợ!

Có một món cá má tôi cũng ưa đem kho trong mẻ kho: cá phèn! Những thức kho trong mẻ kho thường là ít và trẻ con không ăn được. Cá phèn cũng vậy, thứ cá có màu hồng hồng trên lưng lại có thêm hai cọng râu nhỏ nhỏ trên mép, bụng mềm mau bể nếu bị vọc mạnh vậy mà có xương rất cứng. Chính vì xương cứng mà má tôi thường chỉ kho riêng cho ba má tôi ăn chứ bọn trẻ tụi tôi không đụng tới được mặc dầu thịt cá ngọt và béo. Tới lớn tôi mới biết ăn cá phèn và biết tới cá phèn khi đã ra chợ phụ ba má tôi trong vựa cá!

Chợ cá, là nơi ba má tôi tạo nên cơ nghiệp, là khởi đầu để nuôi mười anh chị em tụi tôi lớn lên. Chợ cá cũng là nơi dạy tôi các loại cá, nơi tôi biết thức ăn chính trong quân trường thường là cá mối; nhưng con cá mối mà tôi vừa mua được để làm chả cá vài tháng trước đây thịt tươi cho ra chả trắng khác hẳn với những con cá mối mềm quặt quẹo, bể bụng lòi ruột mà nhà thầu mua với giá rẻ giao cho quân trường Quang Trung để kiếm lời. Bên này tôi mua cá mối lựa từng con, vảy sáng trắng điểm đường chỉ vàng lấp lánh còn con cá mối hồi đó nhà thầu mua, người làm của nhà vựa lấy xẻng xúc hất vô giỏ như đồ lâm vố! Tội làm sao!!!

Chợ cá cũng là nơi để tôi nhận biết trong tôi, chất "con" lúc đó chắc mạnh hơn chất "người"! Hồi đó tôi không thích (nếu không muốn dùng chữ thích hợp hơn, đúng hơn là chữ "ghét) mấy người bạn hàng hay mua cá lúc chợ gần tàn, lúc trời đã sáng rõ và các bạn hàng khác đã về để bán lẽ trong các chợ lớn hơn như các bạn hàng chợ Sài Gòn, chợ An Đông!
Những bà bạn hàng trễ tràng này thường mua các loại cá tạp, cá nhỏ và thường là cá vạt ra từ các bạn hàng của các chợ lớn kể trên. Họ mua, kỳ kèo trả giá từng đồng và khi đã chịu giá, khi người bạn làm hốt cá vào rổ cho họ thường họ ráng lựa mấy con lớn tốt quăng vô rổ. Khi đem rổ vô bàn cân để tính tiền, sau khi cân và lấy bông giá xong họ vẫn ráng thảy thêm vài con nữa sao cho cân thiệt "vát"!

Hồi đó tôi bực mấy bà bạn hàng này lắm! Mấy bà này thường bán ở các chợ xa như chợ Tân Bình hay các chợ chồm hổm. Giản dị là nguyên đêm thức trắng mua bán, chúng tôi cũng đã mệt ngất ngư, mụ hết cả người rồi mà mấy bà cứ lằng nhằng kèo nài bớt vài chục bạc lẽ hay thêm vài con cá. Bạn biết, lời của trẻ con có khi được (hay bị) coi là ác vì thấy sao nói vậy, nghĩ sao nói thế mặc dù là sự thật nhưng nhiều sự thật lại khá đau lòng, không nói có lẽ sẽ tốt hơn! Tôi lúc đó tuy không còn là trẻ con nhưng khá là non dạ, ghét các bà này vì tánh hay lằng nhằng làm phiền, ghét vì các bà mua rổ cá giá trị không bao nhiêu mà lại cứ bớt xén tiền, thêm thắt cá!!! Trong cái ghét vì bị làm phiền chắc có thêm chút khing thường vì họ bán ở chợ xa lại mua hàng giá rẻ!!!

Bạn ơi! Mấy chục năm sau, tôi thường kể chuyện này với ông nhà tôi. Sau câu chuyện thường là cái chặc lưỡi tiếc nuối! Tôi tiếc vì ngày xưa mình đã ghét, tôi chặc lưỡi vì ngày xưa mình đã coi thường những bà mẹ nghèo xa xứ. Những bà mẹ nảy họ cũng có đàn con nhỏ cần nuôi lớn, họ phải chắt chiu từng đồng trong cuộc mưu sinh: thêm một con cá, bớt được vài trăm là họ có thêm vài trăm để nuôi con! Họ mua cá rẻ, bán ở chợ nghèo mà hồi đó tôi coi thường ư? Thì những người mua cá của họ vốn cũng là người bình dân, sống trong các khu lao động! Họ phải chọn cá nào thích hợp cho túi tiền của người mua, giản dị vậy thôi mà sau mấy chục năm tôi mới nhận ra!!! Bạn thấy, cái rừng rú ác độc của tính con trong tôi cũng rất man dại phải không?

Uả! nãy giờ tôi lan man từ mẻ mắm kho quẹt qua tới con cá phèn sang luôn chợ cá và tánh con của con Bảy! Tóm lại là tôi biết con cá phèn từ chợ cá và biết học cách nhìn người từ con cá phèn bể bụng ngày xưa!

Bà Tư vú tôi là người gốc Phan Thiết! Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ bà có dẫn tôi về xứ Phan Thiết của bà, tôi nhớ nhờ bà mà tôi biết ăn bánh căn chấm nước cá kho, biết ăn gỏi cá mai và biết ăn cốm hộc!

Bánh căn thì tôi có kể cho các bạn nghe rồi. Cốm hộc thì tôi nhớ mỗi lần Tết đến, ngoài Phan Thiết gởi cốm nhà đóng vô biếu ba má tôi. Trên bàn thờ ông bà Tết nào cũng có hai hộc cốm chưng cạnh cặp dưa hấu, hộc cốm gói giấy bao xanh đỏ, hai đầu hộc cốm được dán kín bằng hai mảnh giấy trang kim cắt hình tròn có tia như mặt trời còn được ba tôi dán thêm mảnh giấy hình thoi cắt từ giấy hồng điều.Các nhà hàng xóm tôi không thấy có chưng cúng cốm hộc!

Còn gỏi cá mai? Đó cũng là món gần như đặc biệt. Tôi nhớ bà Tư tôi cắt đầu cá mai xong lấy ngón tay lần theo đường bụng tẻ con cá làm hai dọc theo xương sống; xong bà trụng sơ mớ cá với nước dừa xiêm rồi vắt cho ráo thật ráo thành từng nắm. Khi ăn trộn cá với đậu phộng rang giã nhỏ, có thêm gia vị gì khác không thì tôi không nhớ vì lúc đó tôi còn quá nhỏ. Khi ăn xúc cá với bánh tráng mè nướng dòn, chan vô miếng nước mắm me hay mắm nêm tuỳ thích. Tôi nhớ ba tôi ăn gỏi cá mai ưa múc cá vô chén nhỏ, bóp nắm bánh tráng mè vô rồi chan mắm xong lua! Giống như ăn cơm với mắm kho quẹt, ba tôi ăn gòi cá mai ưa cầm thêm trái ớt hiểm cắn một miếng gần hết nguyên trái, xong hớp một ngụm bia rồi khà một tiếng thiệt là sảng khoái!!!

Gần mười năm trước hai vợ chồng tôi có về Việt Nam, tìm một nhà hàng đặc sản để ăn gỏi cá mai nhưng đó là cả một sự thất vọng vì có những món ăn chỉ ngon trong nhớ! Nhớ lúc ấy vẫn đầy nhưng món ăn đã không còn vị ngon cũ! Chắc bạn cũng từng cảm giống tôi như thế!

Hai loại cá nữa cũng của chợ nghèo là cá bẹ và cá rựa! Hai loại cá này ngon thịt nhưng rất nhiều xương và là xương ngang nên nhà có con nhỏ ít dám cho ăn. Tụi tôi cũng vậy, chưa từng được ăn hai loại cá này! Cho đến tết Mậu Thân: ghe không ra biển được, đường tắc, giao thông khó khăn, tình hình thì đầy biến động. Má tôi nhờ có vài người lái cá ở Cấp có ghe ráng ra biển đánh cá và tìm cách chở vô Sài Gòn, chợ không họp nên má tôi bán ngay tại nhà: chỉ có hai loại cá đầy xương là cá bẹ và cá rựa mà đắt không đủ bán cho mấy nhà hàng xóm: cá tuy xương nhưng có chất tười thay vì chỉ toàn hột vịt chấm bắp cải luộc nên nhà nào cũng mua cho con ăn. Nhà tôi cũng vậy: trong những ngày đó tụi tôi mới biết cá bẹ nấu canh ngót ngon béo biết chừng nào và con cá rựa muối sả ớt chiên ăn còn ngon hơn cá thu cá mú gấp trăm lần!

Có nhiều điều tôi chỉ học được ở đời sống nhờ những biến động! mà những điều đó thường sống lâu trong lòng tôi bởi nó nằm trong những dấu mốc quan trọng. Hôm nay nhờ bạn nhắc về cá, tôi mới ôn và nhớ lại những con cá phèn, cá bẹ, cá rựa, cá mai!!!! Tôi: là Con Gái Long Vương đó bạn!!!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Nước mắm, hay nước mắt quê hương

Cá chết trắng bờ dọc biển miền Trung! bên ni lo lắng rồi ra sẽ phải dùng đến nước mắm nhiễm độc từ cá do cá nhiễm độc từ người. Bên nớ dân nghèo khốn khổ: dân biển còn chi đâu mà "đâm Hà Bá"? đến nỗi bạn than: Dân nghèo mình còn có món kho quẹt để đưa cơm mà bây giờ mắm muối cũng không có để mà kho cho quẹt!!! Nghe thương lòng chưa?

Chén nước mắm vốn vẫn là món quốc hồn quốc tuý, là tâm điểm của bữa ăn bàn Việt! Từ cá nhiễm độc những bà nội trợ bày nhau làm nước mắm tại gia! Chia sẻ nhau những bài viết, những bí quyết làm nước mắm thủ công! Một trong những chỉ dẫn này dẫn tôi tới bài đọc bàn về tĩn nước mắm của tác giả Vũ Thế Thành! và tĩn nước mắm của tác giả Vũ Thế Thành đưa tôi nhớ về xóm tĩn dọc Bến Chương Dương dẫn xuôi về Cầu Ông Lãnh! Hơn vậy, nó còn đưa nhớ tôi về một vật dụng ngày nay chắc đã lui hẳn trong mất mát cuộc sống ngày thường: cái bơm nước mắm bằng thiếc!

Nhà tôi vốn là nhà vựa cá biển, nước mắm ăn trong nhà thường là nước mắm nhất từ Phan Thiết chở vô do lái cá có nhà thùng biếu dùng quanh năm không hết! Nhà tôi chưa từng xuống xóm tĩn để mua nước mắm về ăn nhưng xóm tĩn có in chút dấu ấn trong lòng tôi thửơ nhỏ. Nhà tôi nằm trên đường Đề Thám, đi thẳng xuống bến sông quẹo trái là thấy ngay những đống tĩn trắng hếu phơi chổng ngược đầu! Đó là xóm tĩn: cái tên cho biết cái nghề, món hàng chính của xóm tĩn là nước mắm! Dọc dãy phố lầu đâu lưng với đường Cô Giang, ngó ra mặt con rạch chạy xuống tận chân cầu Ông Lãnh là những vựa nước mắm. Thời đó, tôi thấy phương tiện chuyên chở nước mắm từ các tỉnh về vựa là những xe cam nhông mang theo mùi hương đặc biệt của nước mắm! Nghe bậc trường thượng trong nhà kể lại, hồi trước khi giao thông chưa thuận tiện thì nước mắm được chở đến đây bằng ghe, ghe đi cả chục ngày mới tới bến!

Nhưng xóm tĩn tôi nhớ, do đó là 1 trạm ngừng đón học trò của chiếc xe trường tôi đi, xe sau khi đón tôi thì thẳng xuống xóm tĩn đón hai chị em tên Thu và Thư. Nhà Thu và Thư là một vựa nước mắm, từ trên xe nhìn vô tiệm thấy những tĩn nước mắm chất nghệu một bên vách, vách kia thì chất những thùng thiếc 20 lít chứa nước măm loại thường, rẻ hơn (mà nhờ ông Vũ Thế Thành tôi biết đó là loại nước mắm nhì).

Cũng nhờ ông Vũ Thế Thành nhắc, tôi chợt bừng nhớ đến cái bơm thô sơ bằng thiếc! Bạn, có bạn nào còn nhớ cái bơm thiếc không? Hồi trước, trước khi có cái bơm bằng nhựa bóp bóp bơm nước lên, dân tình dùng cái bơm bằng thiếc để chiết nước mắm hay dầu hôi từ thùng ra chai!

Cái bơm, nó chỉ là cái ống dài chắc cở chiều dài cái thùng thiếc hay ngắn hơn 1 chút, đầu trên có 1 cái quặng nhỏ nhỏ hàn dính với ống, thấp dưới cái quặng 1 chút là một ống vòi đưa ngang ra và nằm trong quặng thông xuống ống là 1 cái que thiếc, đầu dưới cái que nằm trong ống có hàn 1 máng tròn nhỏ đường kính nhỏ hơn lòng ống, đầu trên được cuốn tròn thành một cái vòng để que không lọt xuống ống và người xử dụng lòn ngón tay trỏ vô đó mà kéo cái que lên xuống theo một nhịp điệu khá nhanh, mỗi khi kéo lên cái máng kéo chất lỏng từ dưới thùng lên, ngang qua cái vòi chất lỏng sẽ tuôn vào và đưa vô chai đang chờ sẵn để hứng! Hồi còn nhỏ bọn nghịch ngợm chúng tôi thường dành nhau để kéo bơm, chiết dầu hôi (dầu lửa) từ thùng ra chai dùng dần trong nhà!

Từ con cá chết đưa tới giọt nước mắt dân nghèo dẫn tôi trở về xóm tĩn và bật sáng cái bơm trong hồi ức! Nghĩ cho cùng thì tôi nay như người già: việc gần không nhớ lại nhớ chuyện xa! Mà tôi giận ông nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ: ông viết chi mà uống nước dừa như nước mắt quê hương! Nước mắt mặn chớ đâu được ngọt mát lòng như nước dừa! Nước mắm thì may ra............... điềm báo chăng???

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Kỷ niệm - Không có món ăn!

 Đêm mất ngủ lại nằm xem net. Đọc thấy tin Cô Út Bạch Lan qua đời, thọ 82 tuổi, tôi biết dấu gạch nối giữa tôi và các bậc tiền bối gần như chấm hết!


Cô Út - Tôi thích gọi bà là Cô Út như hồi xưa ba má tôi và những người ái mộ cô vẫn gọi, chứ cái gì mà nghệ sĩ nhân dân (hay nhăn răng?) gì gì đó tôi không quen nghe lại càng không quen gọi!- có giọng ca nhẹ nhàng như sương như khói, mượt mà như nhung như gấm. Nghe cô hát, tôi không hề có cảm giác cô phải lấy gân cổ khi qua những đoạn cao hay khi vô câu vọng cổ dài! Không hề cảm thấy cô bị hụt hơi! Mà theo tôi giọng cô hay và rất hạp khi cô hát bản Nam Ai! nó buồn ôi thôi là buồn! Chắc vì vậy mà cô được tặng danh hiệu sầu nữ! Phần chắc cũng vì cô hay đóng các vai đoào thương, nổi tiếng và gần như vai "ruột" và là vai để đời của cô là vai chị Hằng trong tuồng "Con gái chị Hằng", vai bà Lan trong tuồng Tuyệt Tình Ca cũng không bằng! Nhà tôi trước 75 nằm gần rạp Nguyễn văn Hảo, tôi hồi đó còn nhỏ nhưng Tết thường được má tôi hay mấy bà chị lớn dẫn coi cải lương, má tôi hay nói cô Út hát buồn quá chắc đời cô lận đận! Tôi không biết lận đận là lận đận làm sao nhưng tuồng nào cô đóng hồi đó tôi coi cũng rất buồn. Hồi nhỏ tôi lén rình má tôi hay mấy bà chị khóc mùi mẫn để chọc. Lớn lên tới phiên tôi dấu mấy đứa em để chùi nước mắt!

Hôm qua thăm má tôi, tôi cho bà hay cô Út mất. Tôi hỏi bà có nhớ cô Út không, bà nói nhớ rồi hỏi cô Út bao nhiêu tuổi, tôi nói 82! không biết trong cái trí nhớ mờ mịt bủa vây bởi tuổi già má tôi nhớ gì, nghĩ gì mà tôi thấy khoé mắt má tôi hình như hơi ươn ướt!!! rồi tôi thấy bà nhịp tay lên bàn, miệng hát ư ử vài câu không rõ tiếng!

Tôi cũng vậy, tôi không hát nhưng phải mở youtube nghe lại mấy bài hát của cô! Lòng tiếc về những ngày xưa nhờ ba má thích cải lương, vọng cổ mà tôi được nghe và nhớ những tuồng rất xưa như Đêm hát cúng đình có cô Thanh Hương hát, tuồng Người đẹp Bạch Hoa Thôn mà mém chút ba tôi đặt tên thằng em tôi là Hà Lâm theo tên anh chàng bán than trong đó. Những bài vọng cổ ngắn ngắn như Đánh cờ tướng do Ba Vân và Bo Bo Hoàng hát....nhiều....nhiều bài, nhiều tuồng bây giờ nhắc tới chắc ít còn người nhớ.

Mà nhớ để làm chi? Vì điều gì hay ai đó rồi cũng đi vào quá khứ!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Bi don don!

 

Post: #1
Món ăn, kỷ niệm trong ký ức: Bi don don.
"Bi don don, bi dòn dònnnnnnnnnnnnnnnnnn"

Là thứ quà vặt lũ trẻ tiểu học chúng tôi rất thích vì vừa ngon lại vừa rẻ.l Rẻ như thế nào, bây giờ tôi không còn nhớ bởi mái tóc bạc đè nặng làm ngắn đi trí nhớ, chỉ biết với món tiền ăn quà hồi đó của một đứa nhỏ bậc tiều học chắc không được bao nhiêu; dù vậy vẫn đổi được một ống bi don don, nhai dòn dòn béo béo mà có khi còn dư lại chút tiền cắc mút thêm cây đá nhận xi rô!

...............................................

Bạn ơi, viết tới đây tôi bí! không biết dùng chữ nghĩa như thế nào để tả chiếc xe của ông già đẩy bán bi don don! Ngừng tay gõ để tìm tài liệu.....gặp ngay cố nhân!!! Cố nhân đây không phải là hình chiếc xe cải biên của những người bán hàng rong, mà cố nhân đây là một tấm ảnh......

[Image: me1bb99t-gc3b3c-c491c6b0e1bb9dng-phe1baa....jpg?w=593]

Có ai đó không? ai đó từng ở khu Đề Thám, Bùi Viện, Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo trước năm 1975? Có nhớ góc đường này không? có bồi hồi như tôi đây đang bồi hồi không? Có ai không?????

Tôi thấy tôi trở lại tuổi học sinh tiểu học, ngày ngày cắp cặp đi bộ từ nhà ở ngang nhà thờ Tin Lành, đường Đề Thám. Băng qua con lộ lớn Trần Hưng Đạo đi dọc theo dãy phố lầu cạnh rạp hát Nguyễn Văn Hảo đến thẳng góc mũi tàu, nơi có nhà hàng nổi tiếng Tour D'Ivoire để quẹo trái và băng ngang ngay ngã tư (cũng lớn không kém Trần Hưng Đạo) Nguyễn Thái Học - Trần Hưng Đạo, lại quẹo trái thêm lần nữa dọc theo lề đường vốn là bến xe vận tải để thẳng xuống ngã ba Nguyễn Thái Học - Phạm Ngũ Lão. Là gặp ngay góc đường này để quẹo phải để đến trường, chỗ mấy đọt dừa trong hình là cửa sau của trường Tiểu học Tôn Thọ Tường sau đổi lại thành Phan văn Trị! Góc đường này là góc đường Nguyễn Thái Học - Phạm Ngũ Lão khúc ngang hông nhà ga xe lữa! Tới bây giờ tôi không còn nhớ lý do tụi tôi phải vào trường bằng cửa sau mà không phải là cửa trước nằm trên đường Trần Hung Đạo ngó ngang rạp Đại Nam, rất gần nhà!!!

Mèn ơi! kỷ niệm trong tôi với ngôi trường tiểu học này nó mờ nhạt, nó lung linh không rõ nét! Chắc hồi đó đầu óc tôi còn bận bịu với những trò chơi của con nít: đánh đủa, nhảy dây......Tôi chỉ nhớ năm chót là năm lớp nhất, mỗi tuần một lần bị lùa xuống phòng phát sữa nằm dưới tàng cây xoè rông của cây phượng vỹ nằm góc trái của sân trường để chịu cực hình uống sữa! Mèn ơi lần nữa! sữa pha cho tụi học trò uống là sữa bột do UNICEF tặng, mình quen gọi sữa Mỹ viện trợ! Cái món sữa gì mà nếm vị lợ lợ, mặn mặn chứ không ngọt chút nào này thường bị tôi lén hất vô rãnh nước cạnh phòng phát sữa! Chắc có nhiều đứa làm y như tôi cho nên đứng gần cái rãnh nước, mùi sữa đọng lâu ngày lưu cửu thành một mùi khăm khẳm..... Cái mùi càng làm tụi học trò chúng tôi tránh xa ly sữa bị buộc phải uống này hơn.

Ghét sữa, nhưng tôi lại không ghét miếng bánh mì có nhét miếng phô mai màu vàng cam cũng của Mỹ viện trợ. Ly sữa khó uống bao nhiêu thì miếng bánh mì bột dẻo dẻo chứ không dòn, thơm phức mùi bột mì cộng thêm cái béo béo hơn nhẩn nhẩn của miếng phô mai bự cở hai ngón tay nhét nằm trong bụng nó ngược lại rất hấp dẫn với tôi! Khổ, phải uống sữa mới được đóng dấu trong sổ uống sữa mà sổ uống sữa có đóng dấu thì hai tuần mới được phát miếng bánh mì trong cái giỏ cần xé đó! Cái giá không phải nhỏ!

Nhưng món nhớ hôm nay của tôi là món bi, cũng là món khoái khẩu tiểu học. Những viên bi có lẽ làm bằng bột gạo, viên tròn nhỏ nhỏ cở viên bi (chắc tại vậy mới gọi là bánh bi Smile )chiên vàng ruộm! Khi mua thì ông già bán bị vấn một miếng giấy - thường là giấy báo- quấn lại thành hình cái phểu rồi múc bi vào đó, xếp mấy miếng giấy trên đầu phểu xuống che kín miếng viên bi và trao cho người mua là đứa - nhỏ - tiểu - học - tôi, nhón từng viên từng viên cho vào miệng!

Bi don don chỉ hấp dẫn với tôi lúc còn thơ dại. Lớn lên một chút, như cô gái quê của Nguyễn Bính đã nếm mùi tỉnh thành mà mất đi cái mộc mạc hồn nhiên - Tôi lên trung học có biết bao nhiêu là cám dỗ để đứa- học - trò -tiểu - học - tôi mon men nếm những món ăn của người lớn (lớn hơn con nhỏ tôi lúc tiểu học nhiều lắm!) nào là bò bía, gỏi đu đủ, bò viên và cả những xe kem, món kem nước bạn nào còn nhớ??? Món bi don don lui dần, lui dần rồi chìm mất!!! Cho đến một ngày, nhìn thấy trong quyển sách French bakery con tặng, tôi mới nhìn thấy tấm ảnh nhìn giông giống! chỉ giông giống thôi cũng đủ làm bi don don lăn tròn trở về.....
Cái nhớ đủ làm tôi chổi dậy làm ngay mẻ bột. Không phải bột của bi don don, cũng không phải bột choux chiên lên như cách làm trong sách. Bột tôi làm đây là bột pha sẳn của Đại Hàn dùng làm doughnut. Không đúng vị, nhưng cũng đủ làm tôi giảm nhớ!!!!!!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Bánh bèo chén



Người Nam, sao không gọi bánh da heo mà lại là bánh da lợn?
Người Bắc, sao khi nấu xôi vò phải rời từng hạt nếp để rồi khi ăn lại nắm lại thành nắm?

Người Trung, ăn nói dỏ dẹ mà khi làm bánh bèo thì phải đổ dầy dặn trong chén? Trong khi người Nam ăn to nói lớn thì lại chiếc bánh bèo trong Nam mỏng manh nhỏ nhắn trông yếu đuối dường ấy?

Tôi không biết tại sao, chỉ biết bánh bèo nhà tôi ngày nhỏ cũng đổ trong những cái chén sành thô dùng ăn cơm trong gia đình bình dân mà người thời đó thường gọi là chén đá (có lẽ để phân biệt với chén kiểu chăng?) và má tôi cũng là người Huế!

Hồi tôi còn nhỏ, nhỏ lắm nhưng cũng đủ lớn để nhớ những buổi má tôi đổ bánh bèo cho lũ con ăn! Nhà tôi lúc đó còn là căn nhà tường xi măng gác gỗ; má tôi bày lò xửng ngay dựới dạ cầu thang để đổ. Cái cầu thang này, vốn là 1 cầu thang gỗ nhưng bên dưới những bậc thang có lưng ván đóng kín để trẻ nhỏ khỏi lọt chân khi leo lầu. Bên dưới má tôi hay bày lò nướng than mỗi khi nướng bánh bông đá là món bánh ngọt duy nhất má tôi biết làm, hay bày nồi nước sôi trên đặt xửng nước sôi để hấp các loại bánh. Hồi nhỏ tôi không hiểu và cũng không thắc mắc sao má tôi lại chọn góc đó để bày lò mà không bày trên bếp, bây giờ lớn lên tôi hiểu đó là góc ngặt mà bọn trẻ tụi tôi không thể chạy giỡn vì dễ bị đụng đầu vô tấm lưng dốc dốc của cầu thang! Má tôi đặt nồi nước sôi hay lò nướng than nơi góc đó là chủ ý giữ an toàn cho đàn con nhỏ!

Nhà tôi, mỗi khi má tôi bày ra đổ bánh bèo là như ngày hội: đàn con đông cộng thêm mấy bà vú trong nhà thêm vài người quen thân với ba má tôi trong xóm đủ để bà ngoại phải đi chợ xách thêm vài chục chén về đổ mới đủ. Lần nào cũng vậy, mỗi khi đổ bánh bèo là phải mua thêm chén vì loại chén đá thô này rất dòn, dể bị bọn nhỏ tụi tôi làm chén bể, chén mẻ hao hớt lần sau mỗi lần đổ bánh! Chén, khu chợ Cầu Muối gần nhà tôi bán rất rẻ, từng chục chén được cột lại bằng sợi dây gai,, tôi thích hình ảnh bà nội trợ đi chợ mua chén thời đó: tay xách giỏ đựng thức ăn tay kia cầm lủng lẳng xâu chén!

Bột, tối hôm trước bà ngoại đã vút sẵn gạo, ngày hôm sau mang qua nhà bà Tư vú tôi để xay nhờ bằng cối đá. Tôi là đứa duy nhất được đu trên càng cối để xay vì là đứa "nằm vùng" ngay trong nhà vú Tư (tôi ăn ngủ trong nhà bà vú, chạy đi chây về giữa hai nhà!).

Nhưn, má tôi đã chưng một nồi nhưn tôm bự tú hụ! Nhưn tôm nhà tôi lúc nào cũng trội vì là tôm lứa nhà vựa mang về, nhà thường ít khi chưng được nồi nhưn "deluxe" như vậy! Bạn nhớ không? nhà ba má tôi là nhà vựa cá biển mà!

Xong! Bà ngoại và má tôi thay phiên ngồi bếp; người đổ bánh người xếp chén luân phiên! Nước bốc hơi ngfhi ngút, tiếng chén khua dòn dã, tiếng bọn con nít tụi tôi cãi nhau chí choé dành giựt những bậc thang gần chót để bưng chén ngồi ăn khỏi phải leo lên cao. Bánh bèo chén ăn đúng điệu phải xắn bằng những con dao tre, những con dao này má tôi đã ngâm trước trong một thau nước nhưng tụi tôi chỉ thích xắn bánh bằng những cái muổng cà phê nhôm đơn giản: vừa không bị rớt bánh vừa khỏi bị xóc dầm tre!





Trong những buổi đổ bánh như thế này, ba tôi và má tôi thường mời thêm vài người hàng xóm thân thiết như ông bà Chín, mợ Ba qua nhà dùng chung. Tàn ngày, gương mặt má tôi và bà ngoại đỏ hồng, mồ hôi ướt dầm cả tóc và lưng áo! Mệt nhưng chắc là vui! còn tôi thì có thêm một ký ức!

Bây giờ, mỗi khi bày chén để đổ bánh tôi lại thắc mắc: bánh bèo má tôi đổ theo kiểu Trung, dầy dặn lại ăn với nhưn tôm bằm nhỏ chưng sệt sệt đỏ au màu gạch! còn ba tôi là người Nam, sao cũng chỉ thấy ba tôi ăn bánh bèo như thế này? Tôi nhớ chưa từng thấy ba tôi ăn bánh bèo miền Nam, loại bánh nhỏ có nhưn đậu xanh và tôm chấy! Ba tôi mất rồi, tôi tiếc không hỏi ba tôi! Có lẽ cơm nhà quà vợ, ngon vì miếng ăn do tay vợ nhà săn sóc thêm vui vì tiếng cười nói cãi nhau của bầy con tuy ồn nhưng làm sinh động cả căn nhà?




NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Điệp vàng, phượng đỏ..... kỷ niệm trong ký ức

 Gần nhà tôi có cây hoa đỏ, hoa nở đúng vào mùa hè như hoa phượng của tuổi thơ hàng triệu triệu học trò. Khác với phượng, cây hoa đỏ không mang lại cho tôi chút vương vấn nào của mùa hè xưa bởi cây hoa đỏ này không có tàng vươn rộng như chở che cho những mái đầu xanh nô đùa bên dưới, thân cây hoa đỏ này còn tệ hơn: nó trơn lui như thân cây gòn, nhìn vô duyên và màu đỏ của hoa hình như cũng mang nhức nhối đến cho thị giác chứ không như màu đỏ của phượng!


Hè về......

Phượng, trong tôi là nối kết với thời tiểu học. Trong sân trường tiểu học Tôn Thọ Tường -sau đổi lại là Phan văn Trị- có 2 cây phượng cổ thụ nằm đối xứng nhau, chỉ có 2 cây mà tàng lá của chúng giao nhau che mát cả ngôi trường. Cây phượng thời tiểu học của tôi không mang lại nhiều cảm xúc chỉ vì tôi còn bé quá, tuổi tiểu học làm gì biết vương vấn với nhớ nhung bởi xa cách trong mùa hè? ngược lại là khác: hè đến bọn học trò nhỏ chúng tôi được nghỉ học, được đi chơi xa, được về quê về vườn để hái trái cây, băng cầu khỉ, được đi biển Cấp, Long Hải để vọc cát thoả thuê....

Có chút lưu luyến mùa hè là lúc đã khá lớn, sắp rời bậc Tiểu học để được mặc chiếc áo dài lên Trung học. Bắt đầu trao nhau những tập lưu bút mà đứa nào trong chúng tôi cũng cố gắng vẽ vời hoa lá cành cạnh tấm ảnh ngây thơ của mình. Dưới tấm ảnh là những vần thơ vụng dại giông giống nhau như:

Thương nhau mến tặng tấm hình,
Xin đừng vứt (xé) bỏ mà đau lòng mình.....

Những câu thơ này có gõ cửa phòng nhớ trong bạn không? Bạn mến!


_________________________


Trung học, tôi vào được Trưng Vương! ngôi trường này được dùng để đặt tựa cho bài nhạc chuyển lời Việt "Trưng Vương khung cửa mùa thu"" mặc dù nó không dính dáng gì đến bài nguyên tác "Tell Laura I love her" hết!

Dính hay không dính, đọc cái tựa là cựu Trưng Vương như tôi thấy xao lòng ngay! Trưng Vương của tôi, nằm trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rợp bóng me thơ mộng, lá me rụng như rắc confetti lên tà áo trắng dễ thương là hình ảnh mà không một cựu Trưng Vương nào có thể quên được! Cái trường cũng ngộ! đầu đường ngang qua sở thú đầy những voi cọp, tới ngang qua Võ Trường Toản cho các cô nữ sinh e thẹn bước chân! đoạn này thì đầy cây me để lá rơi tô điểm ánh nhìn trao gởi học trò! Phía bên kia thì lại giáp với Hải quân công xưởng, lính tráng nên cứng cáp hơn, lại đầy là cây sao! Hoa sao có hai cánh, khi rơi xuống xoay tròn như con vụ trước khi đáp xuống nằm yên trên đất! Hai đầu chắn bởi thư sinh và anh hùng, làm sao bọn nhi nữ chúng tôi yên ổn bình tâm để lo chuyên cần với sách vở???

Nhưng Trưng Vương còn in đậm trong nhớ của tôi bởi hoa điệp vàng! Những hàng điệp vàng không nằm cạnh trường nhưng chúng rợp bóng dọc hai bên đường Thống Nhất từ dinh thủ tướng ngang sở thú kéo dài xuống nhà thờ Đức Bà gần bùng binh Duy Tân. Từ nhà tôi đến trường có đoạn ngang qua La Pagode để cùng ai đó sóng bước đi suốt con đường Thống Nhất đến trường. Mùa hoa, điệp vàng nở rộ theo dấu bước chân chúng tôi để đến tận bây giờ trên xứ người, mỗi khi nhìn thấy hoa vàng nào đó không phải điệp cũng nhắc nhớ chúng tôi về những cây hoa vàng của chúng tôi! Điệp, đối với chúng tôi là hoa vàng!!!

Bạn hỏi tôi: kỷ niệm trong ký ức thường được gợi nhớ bởi món ăn, vậy thì điệp và phượng có liên hệ gì với ẩm thực chăng??? Tôi nhớ (nếu không lầm) thì chúng mình thời nhỏ hay nhấm nháp hạt điệp rang, không biết có phải hạt điệp của hoa vàng hay không.....nhưng dù không đúng cũng không hề chi, vì kỷ niệm của ngày xưa không phải là món ăn bổ dưỡng nhất cho đời sống nội tâm của chúng ta sao???

______________________________________

Cây hoa đỏ kia không làm tôi nhớ đến phượng, trên xứ người tôi chỉ nhìn thấy một màu tím ngát của cây Jacaranda mà người Việt chúng ta đặt cho cái tên rất thơ là Phượng tím! Phượng tím cũng như Phượng đỏ, nở hoa vào mùa hè.....khi nở hoa chỉ thấy một màu tím ngát trên những tàng rộng của cây chứ không có chút xanh của lá! Hoa rụng, dưới gốc như một tấm thảm tím đẹp vô cùng.....

Nhưng màu tím...... màu tím đẹp mà buồn mênh mang bạn à!!!! Buồn như những đoạn đời mình đã đi qua, nay chỉ còn là kỷ niệm!!!!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Tô trà Huế, ông Chín và ba tôi!

 QUÁN TRÀ HUẾ


“…Trên khắp nẻo đường miền Nam, từ ngày hoà bình trở lại sau cuộc Nam Bắc phân tranh giữa chúa Nguyễn và chúa Trịnh, trước cả khi người Pháp đến xâm chiếm, nơi đây đã có những quán trà Huế dọc theo những con đường đất đi
lại ngang dọc.

Quán trà Huế bên vệ đường phục vụ giải khát, một tô trà Huế thơm phức, một chiếc bánh cốm đỡ lòng, giây phút nghỉ chân cho những khách đi đường thường là người đi bộ, đi ngựa sau nầy mới có những người đi xe đạp. Trên đường đi từ Mỹ Tho vào Gò Cát, từ Mỹ Tho xuống Chợ Gạo rồi Gò Công, từ Mỹ Tho lên Gò Lũy (Nhị Bình), từ Mỹ Tho đến Bến Tranh, Tịnh Hà…hay xa hơn nữa…ta gặp những quán trà Huế mọc lên đây đó dưới một cây bàng, một cây me, một tàn dừa. một bụi tre…

Nói đến quán trà Huế phải nói đến trà trước nhất. Trà dùng cho việc pha trà hay nấu trà phải là trà tươi, hái cả lá lẫn đọt về phơi không qua một sự xấy lửa hay pha chế nào cả, ủ lại trong lá chuối khô để vào chỗ khô ráo. Trà Huế không biết có phải xuất xứ từ Huế hay không nhưng theo truyền tụng là xuất xứ từ đâu ngoài Bắc xa xôi vì Huế không phải là nơi có nhiều trà, mà Lâm Đồng trong miến Nam thì chưa được khai phá. Vậy tại sao có từ trà Huế?

Ngày xưa ông bà ta chưa có quan niệm rõ ràng về địa lý, chỉ biết ngoài kia là Huế, đi ra miền Trung, miến Bắc gọi là đi Huế, vì Huế là kinh đô, Huế là nơi vua ở còn xa nữa thì không biết. Do đó trà ngoài kia đem vô là trà Huế. Do đó có cụm từ “quán trà Huế”, và trà Huế để phân biệt với trà có pha chế thường do người Tàu sản xuất gọi là trà tàu.

Một buổi trưa hè, một khách bộ hành trên con đường gió bụi cảm thấy mệt mỏi, khát nước mà bắt gặp một quán trà Huế thì thú vị biết bao. Nhất là khách được tiếp đãi bỡi các chủ nhân cũng có thể là một bà đứng tuổi móm mém, vui vẻ, tánh tình hiền lành dễ mến, thì cũng có những nữ chủ nhân là những cô gái nam kỳ, tóc cột đuôi gà, cái áo túi củn cởn, vào tuổi trăng tròn đầy nhựa sống.

Khách bước vào quán được đón tiếp bằng một nụ cười rạng rỡ, một ánh mắt chân tình như người quen cũ. Khách
đã cảm thấy ấm lòng, lại thêm mùi thơm của dầu dừa mà cô chủ quán xức tóc gợi lên trong khách một tình quê hương dân tộc đậm đà. Chưa chi cô chủ quán đã nói với một giọng như quen nhau từ kiếp trước:

- Chèn đét ơi! Anh Hai đi đâu mà nắng dữ dậy. Dô quán em uống miếng trà Huế đi. Nè! lần sau đi, nhớ đem theo cây dù nghe hông, hông thôi em dận cho mà coi!

Khách vào ngồi trên một cái băng cây để trước quán. Quán trà Huế chỉ là một cái chòi, hai mái lá lợp trên mấy cây kèo mảnh khảnh gá trên bốn cây cột dầu vuông, chỉ đủ cho việc che mưa đở nắng, dựng bên lề đường dưới tàn một cây bàng. Trong quán một cái bàn cây choáng gần hết mặt bằng của quán. Trên bàn bày những tô ông rồng lau khô úp lên nhau, bên cạnh một cái kệ đựng mấy phong bánh in bọc giấy đỏ, mấy gói kẹo đậu phọng đường tán…lủng lẳng trên mấy cây cột những nải chuối già, chuối xiêm, chuối cau và những xâu cốm chùi gói tròn tròn bằng lá chuối khô
giống như những trái banh nhỏ.

Dưới chân bàn một nồi nước trà bằng đất khá to đang sôi bốc khói, đặt trên một hỏa lò đun bằng than miển (mủn) gáo, hay than đước.

- Anh Hai uống dới em một tô nước trà Huế nghen! Em pha dừa uống lắm.

Người khách hai tay nâng tô nước trà Huế, không biết vô tình hay cố ý khẻ đụng vào bàn tay cô hàng, và cũng không biết cô hàng có phật ý hay không mà chỉ thấy cô hàng nở một nụ cười để lộ hai đồng tiền sâu hóm hai bên má, vói tay lấy gói cốm chùi mở ra và đưa cho khách:

- Cốm em làm đó, bằng nếp ngon mua tuốt ở ngoài Bà Rịa lận, anh ăn rồi anh nhớ em cho mà coi.

Mùi thơm đặc trưng của trà Huế, vị ngọt và béo của cốm trộn dừa làm khách mát lòng mát dạ. Ăn gói cốm xong, uống tô trà Huế xong mà sau chưa thấy khách muốn tiếp tục con đường thiên lý. Áng chừng vẻ đẹp mộc mạc thôn dã, giọng nói chân tình, chan chứa vị nhỏng nhẻo ngọt ngào của cô hàng trà Huế đã có ma lực giữ người khách đường xa ở lại mãi nơi quán trà Huếnầy rồi chăng?

Hình ảnh quán trà Huế đây đó trên khắp nẻo đường đất nước và ngay cả trong nội thành Mỹ Tho, như đường vào Gò Cát, đường lên Bình Tạo ..ngay cả ở tại dốc Cầu Quay, nơi có một cầu tàu Lục Tỉnh, ngay cả tại cầu Bắc Rạch Miễu đầu đường De Castelneau, Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ…Những quán trà Huế đó không còn thấy nữa vào những năm cuối của 1940, nhưng hình ảnh quán trà Huế cùng với hình ảnh một bà lão Việt Nam móm mém nhai trầu, hình ảnh một cô gái thôn dã tóc thơm mùi dầu dừa, má núng đồng tiền vẫn còn trong ký ức của những người lớn tuổi của Mỹ Tho, như một kỷ niệm không phai.”

(Tác giả: Khuyết Danh)

__________________________----

Trời vào đông, trong tiết se lạnh tách trà làm ấm cả lòng! Ôm tách trà gọn trong lòng bàn tay tìm thêm hơi ấm, tôi nhớ về những tô trà Huế ngày xưa.

Không biết từ lúc nào tôi biết ba tôi thích trà Huế nhưng cứ cách vài buổi trưa, thấy vắng bóng ba tôi là tôi lại men ngõ nhỏ sang nhà ông Chín để tìm. Trăm lần như một, tôi thấy ba tôi ngồi uống trà bên chiếc bàn mặt đá cẩm thạch cùng với ông Chín. Đôi khi ba tôi uống trà ngoài bàn còn ông Chín thì đang đàn một bản đàn nào đó trong gian nhà trong. Trong trưa êm vắng, tiếng đàn của ông Chín nghe nhẹ nhàng khi ông dùng đàn Nguyệt, đôi khi réo rắc khi ông xử dụng đàn tranh và u uẩn, áo não với cây đàn bầu!

Ông Chín, tôi không thấy ông nhận học trò! Khác với chú Tư Tân có dạy học trò ca vọng cổ, người duy nhất tôi thấy thọ giáo được ngón đờn của ông Chín là người con gái duy nhất của ông bà Chín: cô Tư!

Tôi nhớ, những khi ba tôi sang nhà ông Chín, bà Chín thường rót cho ba tôi một chén trà nóng. Có 2 điều làm tôi thắc mắc từ hồi nhỏ về thức uống mà dùng chén hay tô để đựng thay vì dùng tách hay ly: chén cà phê theo kiểu Pháp (ít ra là trong những bức hình từ các quyển sách Pháp tôi được đọc hồi đó) và tô trà Huế!

Tô cà phê, tôi chưa tìm được người để hỏi hoặc sách để đọc hiểu; còn tô trà Huế thì như bạn thấy: bài viết trên kia chỉ giải thích về cái tên trà Huế chứ cũng không đề cập đến nguyên nhân dùng tô, mặc dù trong bài có đoạn cho ta thấy cô chủ quán múc cho "Anh Hai" tô trà! Tôi độ chừng các quán trà Huế hồi đó thường là những quán bên đường, mà trà thì thường là nóng nên múc vô tô ít bị bể như trường hợp rót ra ly thuỷ tinh có nhiều bọt, gặp sức nóng từ trà sẽ bị tức và bể gây phỏng cho khách chăng? thêm một lý do là các loại chén đá bình dân thực dụng hằng ngày có giá khá rẻ, mà quan trọng nhất là chén có "khu" dễ cho khách dùng làm điểm tựa tránh cho các ngón tay bị nóng lúc bưng lên uống? Còn cái tách thì nhỏ quá, mà lại là món đồ dùng 'tân thời' trong các gia đình Tân học lúc bấy giờ, làm sao thích hợp với người khách hàng bình dân của quán nước? Trong trí tôi còn nhớ có khi cái tô đó là cái tô chiết yêu nữa kìa!

Thôi dù là vì lý do gì mà trà Huế thường được múc vào chén, vào tô thì tô trà Huế bình dân trong trí nhớ tôi vẫn là tô trà mộc mạc thoang thoảng mùi gừng, tuy không được múc ra từ chiếc om đất trong quán bên đường nhưng bù lại trong vị chát thơm của tô trà Huế ba tôi thường thức trong những buổi trưa tại nhà ông Chín lại điểm chút thanh cao nhẹ nhàng trong tiếng réo rắc của cung nhịp ngũ âm từ những nhạc khí cổ truyền Việt Nam, đôi khi được thêm giọng ca của cô Tư hoà vào tạo thành chút thi vị cho tô trà Huế bình dân trong ký ức!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Hạt dẻ/ Chestnut



Mùa thu là mùa của hạt dẻ!
Tôi có một kỷ niệm chết cười với hạt chestnut này, một kỷ niệm mà khi nhớ hay nhắc lại là làm tôi buồn cười cùng với một chút bâng khuâng nhớ về thành phố ánh sáng Paris.

Năm 2009 hai vợ chồng tôi có dịp thăm Paris cùng cô em chồng. Một ngày chúng tôi nhìn thấy trên khoảng cỏ quanh một công viên gần lối dẫn xuống sông Seine cạnh vườn Tuileries rụng rất nhìều hạt chestnut. Những hạt chestnut màu nâu bóng, tròn mẩy vậy mà không ai thèm ngó ngàng đến mặc dù trước đó tôi thấy họ bán hạt dẻ rang trước lối vào của viện D'Orsay với giá khá mắc!

Cho rằng dân Paris quá thừa chestnut để mà nhặt về ăn, còn hạt dẻ rang bán đắt kia thì dành cho lũ du khách ngơ ngác chẳng biết gì nên ba chúng tôi, ngộ ra mình khôn ngoan như ba nhà hiền triết vội khom người nhặt lấy nhặt để đầy cả hai tay lại cho luôn vào túi áo để chứa.

Về đến căn apartment, vội vội vàng vàng bắt nồi lên luộc. Chestnut vừa đổ ra lại vừa suýt xoa vì nóng và nhặt ngay lên cắn!!! Răng lưỡi vừa chạm vào lớp nhân hạt bên trong thì ôi thôi, cả ba đã phun ra phèo phèo và hỡi ơi vì đắng, đắng khủng khiếp!!!!

Sau này đọc thêm mới biết chestnut có 2 loại và loại mà người ta hay trồng trong các đường đi trong thành phố của Paris là loại dẻ đắng!!!! Đúng là kỷ niệm đắng tuy không cay!!!


Trời xứ Úc cũng đang vào thu, đi chợ đã thấy dẻ bày bán đầy trên phố. Tôi mua 1 ít, tối đó bày ra rang rồi bóc vỏ; chỉ có hơn nửa ký hạt mà tôi mày mò mím môi mím lợi xấp xỉ một giờ!!! Hạt chestnut khó bóc vỏ không ngờ! Và tôi nhớ tới ba tôi: Má tôi rất thích ăn chestnut, thời gian má tôi được hồi phục sau cơn stroke ba tôi thường mua chestnut về luộc cho má tôi ăn. Là một bệnh nhân sau cơn đột quỵ dĩ nhiên má tôi không thể xử dụng tay để cầm dao cho chắc chắn. Ba tôi, một người vốn rất nóng tính thời trẻ lại ngồi kiên nhẩn, tẳn mẳn lột vỏ từng hạt và đưa cho má tôi ăn.

Bạn ơi trong đời có đôi khi những hình ảnh nhìn thấy tưởng chừng như thoáng qua và không quan trọng lại ghi dấu rất đậm trong ký ức chúng ta. Từ hình ảnh ba tôi bóc hạt chestnut cho má tôi đến lời bố chồng tôi dặn dò mẹ chồng tôi lúc bà lâm bệnh nặng mà ông cần đi xa vài ngày: Bà nhớ chờ tôi về nhá!!! Những hình ảnh đó, những lời nói đó đêm nay lại hiện ra, vang lên trong tôi khi tôi cũng ngồi tẩn mẩn bóc vỏ những hạt chestnut nóng hổi từ oven ra. Lúc nhìn ba tôi bóc vỏ chestnut cho má tôi ăn tôi cho đó là việc rất thường nhưng bây giờ đây, tôi biết với tính khí của ba tôi thì đó là thương yêu săn sóc ông gói lại và trao cho người vợ tấm mẳn khi đã đi cùng nhau gần đến cuối đời.

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Món ăn và nhân vật trong xóm nhỏ tuổi thơ



Tôi sinh ra mang theo trên mép phải 1 nốt ruồi, nốt ruồi mà các ông bà mình hay gọi là nốt ruồi ăn hàng. Lớn lên mỗi khi lê la ngoài xóm về, tôi thường bị má tôi rầy:
- Con nhỏ này nó ăn hàng như miệng có quai xách! Hèn gì mà nó có cái mụt ruồi ăn hàng!

Oan cho tôi biết chừng nào! Mụt ruồi đó tôi đâu có tự mình chấm lên mép? Với lại, tôi ăn hàng trong đó phần lớn là do lỗi của ba má tôi! Chớ còn gì nữa! Hình hài tôi do ba má tạo dựng, trong đó có cả cái nốt ruồi! Rồi ai biểu ba má tôi tạo dựng cơ ngơi ngay trong xóm nhỏ này, nơi mà buổi sáng, trưa hay chiều gì cũng có những gánh hàng hay sạp hàng với những món ngon ác liệt! Thế thì, định mệnh đã an bài!!!!

Buổi sáng, tôi hay kể với các bạn về món bánh căn của bà Tư tôi, các món miền Nam của dì Ba Lem. Nhưng như tôi đã nói: xóm tôi có nhiều điều để con Bảy nhỏ nhỏ đó ghi kỹ trong đầu, trong lòng nó mà nay khi thành bà Bảy tự dưng chuyển mình trở dậy thành kỷ niệm, hay như bạn trẻ nói: thành hoài niệm!

Trong xóm tôi có một khoảnh đất trống, chắc thuộc về ngôi chùa (đúng là là miếu) nhỏ thờ Bà Linh Sơn trong xóm nên không ai chiếm dụng để cất nhà cửa chi hết. Khoảnh đất đó bao quanh bởi các căn nhà trong xóm và được tráng xi măng chứ không bỏ loang lổ đất mộc! (nhà thầy Hai hồ nước cũng nằm ngó ra khoảng đất này). Trong mùa cúng đình tâ ơn Bà Linh Sơn đã phù hộ cho dân cư trong xóm được bình an và làm ăn đủ sống trong năm, người trong xóm góp công dựng rạp và mời ban hát bội gồm các thành viên của Ban Vân Hạc do cô Ba Út làm chủ quản về hát 3 đêm trả lễ dâng Bà. Ngoài 3 đêm cúng đình đó, khoảng đất là nơi các người bán thức ăn cho bà con trong xóm dọn hàng - Và chính là nơi tôi tung hoành hồi nhỏ!

Các món ăn sáng (và ăn vặt!) trong xóm tôi đương nhiên gắn liền với người đã nấu ra món đó; trong những người bán đó, có một bà xẩm già - Danh xưng Xẩm này không có ngụ ý xấu mà là trại âm của chử thiếm theo âm Tàu, dùng để gọi người đàn bà trung niên Tàu, có khi gọi vừa âm Nôm vừa âm Hán là thiếm xẩm!- chỉ bán vào buổi sáng. Bà không phải người trong xóm và gánh hàng của bà rất giàn dị: Ở hai đầu quang gánh là 2 cái thúng, trên thúng có lót 1 cái sàng tre trên dó có 1 một món ăn.

Tôi thích ăn món của bà vì vừa rẻ vừa lạ miệng so với các món Việt kia. Tôi còn nhỏ chưa biết nhận xét nhiều, khi lớn lên mới nhớ lại các món ăn của bà thường là món Tiều Châu, như vậy chắc bà là người gốc Tiều! Chỉ có thể bán hai món mỗi ngày nhưng các món ăn của bà thường thay đổi: khi thì món mì hay bún gạo xào theo kiểu bình dân với giá hẹ và trừng xắt mỏng cùng với lác đác tôm khô, khi thì bánh hẹ, khi thì bánh ướt Tiều Châu....nhưng đặc biệt là món bánh đúc mặn Tiều Châu!

Trong các món của bà thì món bánh ướt Tiều của bà tôi không mặn, không phải vì bánh dở mà vì ngay trong xóm tôi có 2 gia đình người Tàu có lò đổ bánh ướt Tiều Châu rất ngon, cái ngon đó có được là nhờ mua ngay tại lò, thấy được cách họ đổ bánh và mua được bánh nóng về chỉ cần chấm với nước tương thêm chút ớt vô là ăn quên đếm bánh!

Tới bây giờ khi ngồi gõ những dòng này kể chuyện bạn nghe, tôi còn hình dung ra được bà Xẩm, chuyên mặc bộ xá xẩu màu đen, hai vạt áo dài quá nữa đùi bà, đầu đội nón tre Tàu khác với nón lá Việt mình, nhìn giống vầy:


Image has been scaled down 51% (640x471). Click this bar to view original image (1300x956). Click image to open in new window.

Hình: Internet
Đặc biệt, bà mang đôi dép kiểu Tàu, giống giống như đôi dép râu hồi xưa của miền Bắc. Loại dép đó nay chắc đã không còn hiện diện, bởi tôi tìm suốt trên internet mà chẳng thấy tấm hình nào tương đương! Và đặc biệt nữa, khi bà cười lộ ra mấy chiếc răng vàng chói. Trông bà, rất Tàu! Không lẫn vào đâu được!

Hề gì Tàu hay Việt! khi mà những món ăn Tàu của bà làm phong phú thêm phần cảm nhận của vị giác tôi từ thuở nhỏ! Bây giờ tôi nhớ thêm rằng: tuy món ăn Tàu, nhưng chưa bao giờ tôi nhớ bà chan thêm bằng nước tương mà tôi nhớ: bà có 1 chai nước mắm pha, gắp bún mì hay xắn bánh đúc xong, luôn luôn bà nắm cổ chai nước mắm lên, xốc xốc vài cái cho lớp ớt và tỏi nằm đưới đáy chai trồi đều lên và xịt vô dĩa thức ăn!!! Đây có phài là một người Tàu tha hương đã thấm đậm chất Việt của vùng đất cưu mang bà và gia đình bà? Tôi không biết, nhưng tôi biết tôi thấy ấm lòng biết bao nhiêu khi tôi nhớ lại điều này!

"Buổi trưa sinh hoạt trong xóm có phần lắng dịu, ánh nắng gay gắt đổ xuống con đường hẻm. Bà bánh cuốn đặt gánh xuống trước nhà tôi, ngồi phe phẩy cái nón lá. Từ hồi lớn lên tới tới giờ, tôi vẫn thấy bà với cái gánh. Một bên thúng ngăn làm ba, ngăn để những lớp bánh cuốn, ngăn để bún, ngăn rau; thúng bên kia lủ khủ tô bì, những chiếc nem, cây chả lụa, hủ ớt, keo nước mắm, keo đồ chua, chén đậu phộng, tóp mỡ, lon đủa...Khi không có khách hàng, bà ngồi tư lự, sửa lại vành khăn nhung cũ mèm. Sau ngày "giải phóng" tôi cứ lẩn thẩn tưởng tượng một buổi đẹp trời, đang ngồi xắt bánh cuốn chợt có một anh bộ đội đứng trước mặt bà, kêu lên mừng rỡ:
- Thưa mẹ (hay thưa mợ, hay thưa u), con đây!

Rồi thì vui vẻ đoàn tụ, để bà được dẹp cái gánh hàng, về nhà sống với con, với dâu, với cháu. Thấy bà còm cõi buồn rầu, sáng sáng gánh hàng qua nhà tôi, rảo vào xóm, rồi trưa trưa ngồi nghĩ dưới bóng cây dừa, bất nhẫn quá. Nhưng có lẽ con bà chưa kịp vào hay tìm bà chưa ra (Gần 30 năm bặt tin, tìm một bà già trong đám đông mười sáu triệu người -mười bảy triệu trừ đi năm trăm ngàn "tay sai" bam đuôi Mỹ, không phải dễ). Hay anh đã chết vì bom đạn trên một quãng đường nào đó, chưa kịp mừng chiến thắng, chưa kịp gặp mẹ già? Nên tôi vẫn thấy bà buồn rầu, còm cõi đi ngang...

(Trích truyện ngắn Xóm nhỏ buổi trưa trong tuyển tập truyên ngắn Mùa hè, một nơi khác của nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến)

Trời đất ơi! đọc xong đoạn văn trên của nhà văn Phan thị Trọng Tuyến, tôi nhỏm ngay dậy, bàng hoàng như vừa trải qua cú sốc Déjà vu!

Tôi cũng có 1 bà Bắc bán bánh cuốn, bà Bắc bán bánh cuốn của tôi bán vào buổi trưa. Bà hay bận áo cánh trắng với chiếc quần đen, tóc trên đều cũng quấn trong chiếc khăn nhung đen bạc màu vì dãi dầu trưa nắng cùng bà qua những buổi trưa! Khác với bà Bắc của nhà văn Phan thị Trọng Tuyến, gánh hàng của bà Bắc tôi không có những món nhứ bún, bì, nem.....bán bánh cuốn đâu cần những món ấy! Bánh cuốn của bà Bắc tôi, được hấp nóng trong chiếc nồi nằm một bên gánh, bánh hấp từng ít một chứ không hấp quá nhiều sợ bán không kịp bánh sẽ bị nhảo! Bên quanh kia bà xếp khéo léo chả lụa, giá trụng trộn với rau thơm, một ít dĩa nho nhỏ, một chai nước mắm nấu trong khe! Bánh cuốn (mà tôi kêu là bánh ướt để phân biệt với ánh cuốn là bánh có nhân) người Bắc chính cống chỉ có thế thôi! Bên dưới mâm này là 1 cái thau nhỏ chứa nước để rửa dĩa!

Giọng bà rao mệt mỏi, nhẹ nhẹ trong buổi trưa không mời gọi được nỗi thèm ăn của người trong xóm. Tôi cũng vậy, không phải tôi biết ngán vì bao nhiêu dĩa bà chỉ rửa trong 1 cái thau nước. Mà món bánh cuốn chân đơn của bà làm sao ganh nổi với các xe bánh ướt ngoài đường Lê Thánh Tôn gần chợ Sài Gòn kia? chỉ cần 1 cuốc xích lô ngắn là tôi có thể diện quần áo đẹp ra đó vừa ăn vừa ngắm nhìnn trai thanh gái lịch của Sài Gòn đang rảo phố, qua lại như đèn cù, thêm mâm bánh cống vàng lườm cao nghệu được chất lên bán kèm với bánh ướt khêu gợi vị giác tôi gấp trăm lần cái dĩa bánh cuốn mộc mạc chỉ có vài lát chả của bà!

Cho đến khi đọc được bài văn trên mười mấy năm trước, trên xứ Úc. Tôi mới thấy ngậm ngùi! Tôi tiếc phải chi hồi đó tôi nghĩ xa hơn, ăn giúp bà một vài dĩa chắc cũng giúp bà về nhà sớm hơn vài phút tránh khỏi cái nắng Sài Gòn buổi trưa! Để bây giờ mỗi khi chợt động lòng nhớ lại, tôi không bị hình bóng bà cầm chiếc kim châm vài phát vào tim, tuy không rướm máu nhưng cũng đủ nao lòng!

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Đọt xoài hay lá lụa???



(Viết tặng Café Moka cùng các bạn trong Bếp Hồng, with love! Cám ơn bạn vì đã giúp Bọ nhớ về những kỷ niệm trong ký ức lần này!)

Bạn nhắc:

"... Hình như lá xoài non ,mình có thể ăn được , hơi chua chua ,cuốn bánh tráng , rau sống"

Xóm nhà tôi hồi đó là một xóm đầy sinh động! Có lẽ trong xóm tôi có 1 sinh hoạt rất đặc biệt mà không chắc trong các bạn đây có được nhiều người biết: lấy nước công cộng!

Chắc bạn đang cười tôi: tưởng gì, lấy nước công cộng, nôm na là nước phông tên! có chi mà hiếm người biết! Ừ thì nếu giản dị là gánh nước phông tên thì hồi đó, thời mà nước máy chưa vào được từng nhà trong vùng Sài Gòn có chi là lạ. Nhưng đây lại không phải gánh nước phông tên! Bạn nghe tôi kể nhé!

Đó là 1 cái hồ nước hình chữ nhật cao chừng hơn thước, dàii chắc đâu khoảng 5 thước chia làm 2 phần, mỗi phần được đóng mở bằng 1 nắp kiêủ trap door bằng sắt có khoá bằng ổ khoá chắc chắn. Nước chảy đầy hồ từ 2 vòi phông tên nằm trong lòng mỗi ngăn một chiếc.

Cứ 2 ngày 1 lần ông chủ hồ nước - tụi tôi và người trong xóm kêu là thầy Hai hồ nước, nhân vật thầy Hai này khiến khi lớn lên tôi cứ mường tượng ra khuôn mặt ông dưới cái tên của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc, giản dị là vì ông chuyên mặc bộ bà ba trắng đi đôi guốc mộc giống các nhà văn miệt vườn miền Nam này hết sức! - mở hồ cho người ngụ phía trong sâu trong xóm, nơi mà nhà được cất chấp vá sau này nên nước máy không dẫn đến được; có thể múc nước gánh về trữ dùng, dĩ nhiên là phải trả tiền và chỉ mở hồ trong thời gian 1 tiếng! Ngoài thời gian đó thiếu nước thì phải xuống dưới phông tên ngã tư xa hơn.

Cửa sổ sau nhà tôi nhìn ngay ra hồ nước, tôi lại thích quan sát nên tha hồ nhìn cảnh sống đởi thường mà lại khá là hiếm hoi đó, rồi thích thú ghi nhận vào trí nhớ tôi cho đến vài chục năm sau! Có nhiều người từ xóm lạ đến xách nước (tôi gọi là xách nước mà không gọi gánh nước vì nhiều người chỉ múc nước vào 1 thùng thiếc 20 lít rồi xách bằng tay về nhà chứ không cần quang gánh), tiếng thùng thiếc va chạm vào nhau loảng xoảng chen lẫn tiếng rào rào của nước múc từ hồ đổ vào thùng tạo thành 1 âm thanh rất vui tai. Thầy Hai ngồi trên 1 chiếc bàn nhỏ kê gần đó để thâu tiền mỗi thùng sau khi múc đầy lại ghé trả trước khi xách đi. Những khuôn mặt đó có quen có lạ, nhưng in đậm nét nhất trong tôi là 1 người đàn bà, tôi không biết tên nhưng gọi theo người trong xóm là bà Tà La! Bà Tà La, nghe tên là có thể hình dung ra 1 người ăn to nói lớn, lại nói nhiều và nói lung tung phải không? Đúng như tên (thiệt ra tôi nghĩ người trong xóm đã lấy đặc điểm giọng nói của bà để gọi thành tên!) giọng bà Tà La đặc, rền và rổn rảng như giọng đàn ông. Nhưng điều làm tôi có ấn tượng đậm với bà không phải là giọng nói, mà là sự săn sóc của bà dành cho con chó của bà!

Thời đó người mình nuôi chó kiểng không nhiều, mà lại là một con chó trắng lông xù, to như chó berger! Bà Tà La giữ chó rất sạch, lúc nào nhìn nó cũng trắng bông như đám mây trên trời cao lạc vào xóm sâu tăm tối kia, nơi mà nước máy của Sở Thuỷ Cục không dẫn vào tới được! Mỗi lần thầy Hai mở nước là y như rằng có mặt bà Tà La, bà không xách nước ngay, mà dắt chó ra rồi xắn hai ống quần cao tới bẹn, bà xát xà bông, tắm chó rất cẩn thận, xong đâu đấy bà cột chó vô hàng rào nhà gần đó, xách vài thùng nước về đổ đầy lu khạp xong mới dẫn chó về. Xóm tôi có nhiều hình ảnh rất tầm thường như vậy, nhưng tôi không thể nào quên được.

Bạn, và nhiều bạn trẻ khác khen tôi có kiến thức! Tôi, tôi nghĩ không phải kiến thức rộng mà do tôi may mắn lớn lên trong một môi trường sống động đầy màu sắc lúc nhỏ, trong đó có nhiều nhân vật tuy không kiệt xuất nhưng khá độc đáo và cá tính rất rõ nét đã in đậm vào trí nhớ tôi, như một âm bản của nhiếp ảnh để khi có chút gì chạm đến là hiện rõ dần lên thành dương bản vậy!

Một âm bản khác trong tôi là dì Ba Lem! dì Ba Lem chuyên bán các món ăn sáng rặt Nam như bánh xèo, bún mắm, bún thịt nướng, cháo bồi, bánh hỏi thịt nướng và đặc biệt: bánh nghệ thịt nướng! Bánh nghệ, sang đây tôi gặp nhiều người không biết bánh này khi tôi nói đến! Nhưng bánh nghệ, không phải là thứ tôi muốn nhắc đến hôm nay!

Các thứ quà sáng này, dì Ba Lem thường đơm trong 1 cái tràng nhỏ dọn cho khách. Trong tràng một bên dì xếp hoặc bánh xèo, hoặc bánh hỏi hay bánh nghệ, một bên dì xếp đầy các loại rau ăn kèm, thêm mít non luộc nếu khách ăn bánh hỏi hay bánh nghệ. Nhưng trong các thứ rau để cuốn bánh xèo, bánh hỏi hay bánh nghệ đều có mặt 1 loại lá màu phớt xanh lục, mơn mởn như có lớp dầu và cái tên thì thật là thơ mộng: Lá lụa!



Hình: Internet
Nó đó bạn à, cái lá cuốn kèm với rau sà lách và các loại rau thơm khi ăn bánh xèo hay món cuốn, cái lá có mùi chua nhẹ nhẹ mà bạn tưởng là lá xoài non, chính là lá lụa này đây! Dì Ba Lem, khi bán các thức ăn sáng rặt kiểu miệt vườn này cho bà con trong xóm, dì cũng chuyên chở tới người ăn những đặc sản rất là nhà quê ăn kèm theo món ăn dì bán. Món nào dì dọn kèm phụ gia đi kèm đúng gốc cho món đó, và cách nêm nếm rất "rặt" chứ không cải biên như nhiều nhà hàng ở VN bây giờ! Chắc tại vậy, mà các món ăn và dì đi sâu vào tiềm thức tôi cho tới tận bây giờ. Khi bạn nhắc về "đọt xoài non" thì ngay lập tức cái lá lụa này hiện ra thành dương bản trong tôi. Rõ mồn một!

Thêm 1 điều về dì Ba Lem: Làm nghề như dì, vào thời chưa có "chảo chống dính" như thời hiện đại, đôi chảo gang đen xì dùng để đổ bánh xèo là vật gia bảo của dì Ba! không hiểu vì cơ duyên nào, khi Ba tôi sang Úc đoàn tụ cùng Má tôi và các con sau gần 5 năm cách biệt, trong hành lý của Ba tôi có cặp chảo gang này cùng lời nhắn: Để bà Mười đổ bánh cho tụi nhỏ ăn! Tôi độ chừng trong thời buổi mà mọi người đều phải ăn độn mì với bo bo, gạo thì mua theo khẩu phần, vải thì mỗi năm 2 thước Nam Định khổ 9 tấc may được 1 ống quần. Mấy ai có dư dã để ăn sáng nên cặp chảo của dì trở thành vật lăn lóc góc bếp ám khói của dì. Chắc không đành lòng với cặp chảo bị bỏ quên, dì thà gởi nó theo Ba tôi để Má tôi xử dụng. Như bà mẹ nghèo ráng ký gởi đứa con cưng của mình ra nước ngoài để nó được tốt lành hơn.

Chắc là vậy!


NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Tết và canh khổ qua, nhớ ba tôi



Đêm nay là đêm 30, ngày cuối của năm. Đêm trừ tịch xứ Úc mà sao mọi vật - và người hình như cũng im ắng khác thường, như người và vật cùng nhau trang trọng chờ đón giờ khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Như những ngày xuân thời đó, có ba tôi!
Thời đó, bao giờ trong mâm cơm cúng chiều cuối năm đón ông bà về sum họp vui xuân cùng con cháu thể nào cũng có tô canh khổ qua dồn thịt. Năm nào cũng thế, nên bọn trẻ chúng tôi sinh lòng thắc mắc và được ba tôi giải thích rằng do cái tên của khổ qua, nên cuối năm người ta thường ăn khổ qua để mong trong năm mới cái khổ rồi cũng qua đi cùng năm cũ.

Cuối năm nào má tôi cũng hầm canh khổ qua, trước cúng đón ông bà sau gia đình cùng ăn để mong qua cái khổ (và có lẽ hầu hết người Việt ở miền Nam đều có tô canh khổ qua trong ngày chót của năm này!) Vậy mà sao cái khổ vẫn còn đeo theo ba má tôi (và hầu hết người Việt ở miền Nam) sau những ngày của năm 1975? Tôi còn nhớ như in ngày ba tôi không khoá lại cánh tủ dưới bàn thờ ông Địa vốn là nơi ba tôi giữ hàng xấp tiền sau ngày chợ để chờ trả cho lái cá. Tôi thảng thốt nhắc ba tôi: Kìa sao ba không khoá tủ!

Câu trả lời cùng ánh mắt buồn bã của ba tôi còn in đậm trong tôi cho đến tận bây giờ:

- Có mua bán gì được mà có tiền để khoá, con?

Ba ơi, những đêm trừ tịch đầu tiên trên đất Úc, theo thói quen con vẫn thức đợi qua giờ khắc giao thừa đến. Trong đêm thanh vắng hình như con vẫn lắng tai nghe xem tiếng con gì sẽ kêu đầu tiên, như ngày xưa ba thường chỉ biểu cho con. Hầu như chỉ có tiếng dế, tiếng ve kêu râm ran trong đêm mùa hè Úc! Buổi cơm chiều, tuy con không cúng nhưng bao giờ cũng có tô canh khổ qua, ăn để mong qua đi cái khổ! Và như mọi năm, lại nhớ về những cái Tết sum họp ngày cũ: đêm giao thừa không nghe được tiếng con gì kêu ngoại trừ tiếng dao thớt, tiếng cười nói của má và các chị gái chuẩn bị thức ăn để hôm sau, mồng một ba sẽ cúng chay! Chỉ là quá khứ thôi, như ba bây giờ, phải không ba?

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Khô mặn ngào đường

 Nhà tôi vốn là vựa cá biển nên có nhiều món đồ biển tụi tôi ăn khi nhỏ phải nói là khi kể ra không có nhiều người biết!


Chẳng hạn bong bóng cá đường!

Bong bóng cá thì nhiều người Việt mình biết đến lắm, nhưng biết tường tận là bong bóng cá đường thì số người biết đã ít hơn rồi. Ăn được bong bóng cá đường tươi, ướp nước mắm hành tỏi chiên lên còn ít người biết hơn nữa, ngoại trừ bạn là người vùng biển hoặc trong ngành hải sản. Mà không phải người vùng biển nào cũng có bong bóng cá đường để ăn: giản dị là ngư dân khi đánh lưới được cá đường thì họ mổ lấy ngay bong bóng trên tàu trước khi ướp cá dưới hầm nước đá. Số bong bóng này về phải giao nộp cho chủ tàu vì bong bóng cá đường rất có giá và theo 1 số người cho rằng nó có thể làm 1 vị thuốc! Mà không phải cứ ra khơi đánh cá là sẽ có cá đường! phải là tàu lớn có thể thả lưới ngoài vùng biển sâu chứ không phải cận duyên, và tàu phải có trang bị loại lưới mắt lớn, mỗi chuyến tàu về phải vài tấn cá chứ vài tạ thì không thấm vào đâu! Ba má tôi có hai người lái cá là chủ tàu lưới năm nên thỉnh thoảng được chủ tàu gởi biếu vài chiếc bong bóng cá đường tươi!

Cá đường, trong ký ức tôi hồi nhỏ ngoài món bong bóng chiên lên, ăn có sớ ngon như thịt heo ra, còn in đậm trong tôi món khô cá đường ngào đường (nếu làm thơ thì phạm luật vì 2 chữ đường gần như đi liền nhau ).

Tôi nhớ, trên giàn bếp nhà tôi má tôi có treo 1 chùm bong bóng cá đường. Lâu năm, nên màu những chiếc bong bóng cá đã trổ vàng màu khói ám và cứng như những thanh củi! Nhưng đối với bọn nhỏ chúng tôi, vị thuốc hay không nào chúng tôi cần biết đến! Cái làm tôi nhớ đến cá đường là do thỉnh thoảng có cá tàu lưới năm về, ngoài "nguyên chiếc tàu tui lựa đúng 1 con cá thu về cho con ăn" như má tôi thường kể, má tôi lâu lâu lại bắt 1 con cá đường về xẻ ra muối xổi rồi gởi về quê cho bác và các cô tôi, còn dư ra má tôi đem chiên lên, giao cho bà ngoại tôi giã nát xong đem chấy lại với đường. Cơm nóng, trộn đều với khô đã giã bông ra, thơm ngạt ngào mùi tỏi thêm ngọt vị đường và kết hợp cùng cái mặn mòi sẵn có của khô làm chúng tôi ăn không biết ngán, ăn đến no kềnh ra và tha hồ uống nước để đến tối là có
màn "đấm dài" gần như tập thể!!!

Sau 75, khô cá đường chỉ còn trong kỷ niệm! Gia đình tôi chia nhỏ ra vượt biên trốn ra khỏi quê hương. Má tôi và mấy người chị em gái của tôi mang theo đứa con trai đầu lòng của tôi đi trước, thoát được đến Nam Dương. Ba tôi và chị Hai tôi ở lại giữ nhà phòng khi việc trốn lánh bị đổ bể thì còn chốn mà nương thân. Phần tôi, cùng chồng và đứa con gái nhỏ lên tàu, chạm chân được đến Mã Lai sau 3 ngày trên biển. Được tạm trú để hồi sức tại trại Marang 3 ngày, chúng tôi được đưa lên tàu sang đảo Bidong, sống đúng đời tỵ nạn. Bữa cơm đầu tiên trên đảo, tôi dùng số cá cơm khô của cao uỷ phát, đem ngào mặn ngọt với đường! Cơm thì nấu với gạo hẻo mà cá thì ngào với khô vụn, nhưng bữa cơm đầu tiên trên đảo Bidong bên ngoài đất nước Việt Nam đau khổ của gia đình nhỏ chúng tôi thật ngon biết bao nhiêu: ngon vì biết mình đã thoát được đến bến tự do và ngon vì còn được ăn cá chứ không phải bị cá ăn mình!!!

Bây giờ, nhiều khi tôi cũng mua cá về muối xổi rồi ngào đường. Cá đường bên này mua không có, tôi chọn cá mú để được loại cá thịt dai....nhưng không bao giờ tôi có thể ngào ra dĩa khô cá ngon miệng như dĩa khô ngào hồi nhỏ, hay chí ít ra, như dĩa khô cá cơm ngào trên đảo Bidong! Món ăn của kỷ niệm, dễ gì tôi có thể nhắc lại bên ngoài không gian và thời gian đã sống??? Chưa kể trong những món ăn kỷ niệm đó, còn bóng dáng những người thân của tôi mà nay đã là hồn muôn năm cũ??? Nhưng tôi vẫn muốn nấu lại cho con cháu tôi ăn, để tôi có thể kể lại cho chúng nó biết chuyện ngày xưa. Và biết đâu sau này, chúng nó lại cũng nấu những món ăn đó cho con cháu chúng, khi tôi cũng đã trở thành người của ngày xưa????

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Bánh mì chiên

 Năm 1968, Tết Mậu Thân!!!


Chúng ta chắc khó quên những ngày khói lửa kinh hoàng ngay trong thủ đô Sài Gòn vào đúng ngày thiêng liêng Nguyên Đán.

Nhà tôi may mắn không nằm trong vùng bị thâm nhập, nhưng đêm đêm chúng tôi sợ đến phát khiếp vì những tiếng súng nghe rất rõ vọng đến từ khu Bàn Cờ, Nguyễn Thiện Thuật và khu Hàng Xanh là những khu bị nằm trong vùng giao tranh. Những ngày đó, tối tối ba má tôi lùa lũ con chui xuống ngủ trên sàn nhà, bên dưới bộ ván 2 tấm dày trên 1 tấc mà còn được chất thêm lớp bao cát dày cộp để giảm thiểu sức công phá của đạn pháo kích nếu rủi ro xảy đến!

Cũng trong những ngày đó, xóm tôi có vài gia đình lạ, là bà con thân nhân của vài người trong xóm đến tản cư ở nhờ. Cạnh nhà tôi là gia đình thím Hưởng, nói là gia đình nhưng chỉ có thím và 3 cô con gái còn chú thì chúng tôi chưa hề biết mặt vì chú là quân nhân nên bị cấm trại 100%.

Chú thím Hưởng chắc người có học thức cao nên cách đặt tên con rất là văn vẻ - ít nhất với sự hiểu biết non kém của tôi lúc bấy giờ- chiếm được lòng vị nể của bọn chúng tôi không ít: Lan Hương, Liên Hương và cô nhỏ nhất cũng tên Hương - nhưng tôi lại quên mất tên lót của cô bé!-

Ba cô bạn tên Hương rất nhỏ nhẹ, tuy thân thiện nhưng không lăn xả chơi những trò chơi cạnh tranh với con trai như bọn chúng tôi. Trò đời, nhất là với bọn còn trẻ con như chúng tôi, cái gì càng xa xôi khác biệt thì chúng tôi càng tò mò, càng muốn lại gần để làm quen! Bởi vậy, một ngày kia thím Hưởng bày chiếc bàn nhỏ cho Lan Hương ngồi bán những chiếc bánh xinh xinh, chúng tôi hưởng ứng rất tận tình: vừa có bánh ăn, vừa được thím Hưởng ân cần nhỏ nhẹ hỏi thăm vài câu lại còn được Lan Hương và Liên Hương cám ơn sau khi gói những chiếc bánh xinh nóng hổi trao tận tay: một điều chúng tôi ít được nhận từ xóm nhỏ bình dân hồi đó!

Mà món bánh, giản dị có gì đâu: Một ít bột mì, chút đường thêm cái trứng gà, nắn dài ra và đem chiên với dầu. Vậy mà ngày nào thím Hưởng cũng bán hết veo veo......Cho đến 1 ngày, gia đình thím trở về khu nhà cũ vì tình hình đã ổn định.

Lan Hương, Liên Hương và bé Hương, từ đó chỉ còn là những cái tên đẹp trong ký ức tôi vì tôi không bao giờ còn gặp lại ba cô Hương và ngay cả nét mặt ba cô cũng dần phai nhạt đi trong trí nhớ. Tuy nhiên, chiếc bánh thím Hưởng làm, thỉnh thoảng tôi cũng nắn chút bột và chiên lên rồi bà cháu cùng nhâm nhi. Chiếc bánh tuổi nhỏ với cái tên giản dị đúng với hình thức của nó: bánh mì chiên!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Cá bống trứng kho tộ.

 Má tôi rất thích ăn cá bống trứng kho tiêu, có lẽ vì món ăn này trong Nam nhắc má tôi phần nào món cá kho thệ xứ Huế của má tôi!


Mà ngộ! nhớ cá kho thệ, lẽ ra má tôi phải mua cá bống trứng về kho thì nó mới giống trả cá kho thệ ngoài Huế, chứ cái giống cá bống trứng nhỏ nhỏ này phải xúc miếng to mà ăn thì đâu có nét gì giống cách ăn dỏ dẹ của người xứ quê ngoại tôi???

Sau này lớn lên, tôi mới nghĩ ra má tôi chỉ nhớ món kho thệ trong tâm tưởng, còn bản chất người vợ, ngưồi mẹ khiến má tôi chọn mua cá bống trứng về kho cho chồng con ăn!

Tọi nhớ ba tôi khi nhà có cá bống trứng kho tiêu, ông thích lấy cái tô xúc cơm cho đầy, cơm nóng cũng được mà cơm nguội cũng chẳng sao. Rồi ông ém vài muổng cá bống trứng kho tiêu màu nâu sẫm vô 1 góc tô. Múc 1 muỗng vun cơm kèm theo vài con cá, vói tay lấy trái dưa leo má tôi đã rửa sạch cắn 1 miếng nghe dòn rụm! Trả cá má tôi kho đã cho tiêu thơm phức, mà khi ăn ba tôi còn cắn thêm trái ớt hiểm để tăng thêm kích thích cho vị giác, chu choa ơi tôi nghĩ lúc đó ba tôi đang trở về thời còn ở dưới quê, đi tát đìa hay quăng chài kiếm cá!!! Con người chơn chất miền Nam lộ rõ trong cách ăn to xúc đầy của ba tôi lúc đó!!!!

Cá bống trứng chỉ cực lúc làm, phải vốc vài con trên tay mà lựa, tách ra mấy cọng rong rêu! Làm thì cực, tới khi ăn thì lũ con nít tụi tôi lủm 1 cái hết mấy chục con cá, đâu có biết tiếc công má tôi hay bà ngoại ngồi cong lưng nhướng mắt lựa cá! Còn con cá bống cát thì nhờ trộng con nên rất dễ làm, nhưng coi nó vậy mà nhiều xương lắm, nhất là chỗ bụng gần lườn cá! Đám con nhỏ của má tôi mà hớp tớp không coi kỹ thì mắc xương như không! Có lẽ vậy cho nên món cá kho thệ của má tôi hiện ra dưới hình dạng của mấy con cá nhỏ xíu mà mang 1 bụng trứng thè lè!!!!

Sau 75 không còn mua bán được, thỉnh thoảng vào buổi chiều má tôi qua phà sang Thủ Thiêm tìm mua vài rổ cá bống trứng kho cho nhà ăn, mà món cá bống kho sau 75 nó mất đi cái vị ngon bùi trước đó: con cá kho mặn hơn lúc trước, khô queo cứng còng để bớt hao đồ ăn! Một buổi chiều má tôi về trể, thẩn thờ nước mắt rưng rưng!!!! Hỏi ra thì má tôi cho biết bị bọn gian lắc túi mất hết tiền!!!!! Tôi nhớ cái nhìn của ba tôi dành cho má tôi lúc đó, không tả nổi bạn à!!!! Ba tôi chỉ lấy cái khăn đưa cho má tôi lau mặt rồi hối má tôi đi tắm, thay đồ khác. Cái áo bị lắc túi của má tôi, ba tôi đem quăng vô thùng rác hay cho 1 người hàng xóm nghèo nào đó mà sau này tôi không còn thấy má tôi mặc nữa! Có lẽ ba tôi không muốn má tôi tủi thân khi nhìn thấy nó và nhắc nhớ cái tâm trạng thất thế của một người từng ngồi trên lưng voi, vì thời cuộc mà phải rớt nước mắt vì miếng ăn cho chồng và đám con dại!

Năm đó tôi đã lớn và đã có chồng con! Và nỗi đau của ba má tôi trong những ngày sau 75, thỉnh thoảng vẫn hiện ra rõ trong tâm thức tôi, mồn một!!!!

NHỮNG MÓN ĂN , KỶ NIỆM TRONG KÝ ỨC: Bánh canh bột gạo

 Như bạn biết thấp thoáng trong những bài viết của tôi, bóng dáng cô gái Huế e lệ má tôi luẩn quẩn cạnh anh trai Nam hào sảng ba tôi!


Ngày còn đi học, và cho tận bây giờ tôi vẫn thắc mắc tại sao thi sĩ Hàn Mặc Tử lại tả nét đẹp của 1 cô gái bằng sánh ngữ "mặt chữ điền", mặt chữ điền thì làm sao mà đẹp? đẹp thì phải là mặt trái xoan chứ??:

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,

Nón lá che ngang mặt chữ điền.

Cô gái Huế má tôi, không có nét đẹp mặt chữ điền hay trái xoan gì gì hết. Cô gái Huế má tôi chỉ có nước da trắng hồng như quả mận hồng đào của xứ Nam kỳ lục tỉnh. Nước da này má tôi vẫn giữ được cho tới tận bây giờ, khi má tôi đã gần bách tuế!

Tiếc thay, Huế không in đậm dấu trong lòng chúng tôi, có lẽ vì má tôi xa Huế từ hồi nhỏ và lũ chúng tôi được sinh ra và lớn lên nơi Sài Gòn hoa lệ. Quê ngoại xa quá! đường xá cách trở trong thời chiến tranh chúng tôi làm gì có dịp được về thăm? Lâu lâu có vài cậu, dì ghé thăm vài ngày rồi thôi! Quê nội thì gần hơn, chỉ vài ba tiếng theo xe đò là tới nên nào là bác, cô, các anh chị họ cứ mang gạo, chuột đồng, bánh tét từ quê lên thăm em thăm cháu.

Do vậy, món bánh canh Nam Phổ tôi chỉ biết qua sách vở, qua những bài ẩm thực của xứ Huế chứ chưa lần chạm răng vào nó. Ngược lại, món bánh canh bột gạo miền Nam của anh trai miền Nam ba tôi thì chúng tôi ăn đến quen môi quen miếng, ăn theo từng biến thể của món này!
Bánh canh bột gạo, là để phân biệt với bánh canh bột lọc. Bánh canh bột gạo ở nhà quê miền Nam thường là làm bằng bột gạo nhồi kỹ, cán mỏng ra và dùng dao mà xắt.

Nhà quê, đánh dậm được vài con cá nhỏ nhỏ, kéo vó được dăm con tép bạc là nấu được nồi bánh canh cho lũ trẻ húp rồi, nhiều nơi còn chan cả nước cốt dừa vô nhưng thú thực tôi không hạp giọng lắm khi chan nước dừa vào tô bánh canh. Chắc tại hồi nhỏ -và cả sau này lớn lên- tôi bị ảnh hưởng theo cách ăn của ba tôi: cá lóc thì phải rỉa xương cho thiệt kỷ (coi chừng, bà mà rỉa không hết xương thì con nó mắc cổ! Tôi vẫn nhớ câu ba tôi hay dặn dò má tôi như thế). Tôm lột vỏ bằm nhuyển với đầu hành lá, cho chút tiêu rồi tao lên cho có chút màu gạch. Nhưng có 1 cách nấu bánh canh bột gạo mà sau này tôi không còn được ăn nữa: bánh canh bột gạo nấu với gà bằm thiệt nhuyển, cả xương cả thịt! Món này chỉ khi lớn lên chút tụi tôi mới được ăn và tôi vẫn có chút phục bà vú mà tôi gọi là bà ngoại: buổi sáng bà ngồi tẳn mẳn bằm thiệt nhuyển con gà, ngày xưa không có máy xay thịt, chỉ với con dao phay và cái thớt me mà bà bằm nhuyển nguyên con gà không còn miếng xương nào trộng trộng, vừa thịt vừa xương nhuyển nhừ! Buổi trưa bà ngồi còm cọm nhồi bột, xong dùng cái chai cán cho thiệt mỏng rồi vẫn với con dao phay, bà xắt thành những sợi bánh canh đều đặn! Ngày nay với cây cán bột mà tôi còn ngán cán bánh canh nói chi tới chỉ dùng cái chai mà cán!!! Bà ngoại ruột tôi mất hồi má tôi còn nhỏ xíu, may mà tụi tôi còn có bà vú, may mà ba má tôi biết trọng người ra công giúp sức chăm sóc lũ con dại nên bắt tụi tôi gọi là bà ngoại!

Ngày đất nước rời rã, tụi tôi lần lượt ra đi. Bà ngoại tôi không thể nào theo được, về sống với người con gái ruột rồi qua đời trong lặng lẽ! Ngày đó, chưa có cách chuyển tiền về quê hương, chắc những ngày cuối đời bà ngoại tôi sống trong cực khổ mà lòng mang nỗi nhớ lũ chúng tôi, những đứa cháu không máu mủ mà bà săn sóc từ tấm bé hơn cả cháu ruột của bà!

Lòng tôi nghẹn đau.................................