QUÁN TRÀ HUẾ
“…Trên khắp nẻo đường miền Nam, từ ngày hoà bình trở lại sau cuộc Nam Bắc phân tranh giữa chúa Nguyễn và chúa Trịnh, trước cả khi người Pháp đến xâm chiếm, nơi đây đã có những quán trà Huế dọc theo những con đường đất đi
lại ngang dọc.
Quán trà Huế bên vệ đường phục vụ giải khát, một tô trà Huế thơm phức, một chiếc bánh cốm đỡ lòng, giây phút nghỉ chân cho những khách đi đường thường là người đi bộ, đi ngựa sau nầy mới có những người đi xe đạp. Trên đường đi từ Mỹ Tho vào Gò Cát, từ Mỹ Tho xuống Chợ Gạo rồi Gò Công, từ Mỹ Tho lên Gò Lũy (Nhị Bình), từ Mỹ Tho đến Bến Tranh, Tịnh Hà…hay xa hơn nữa…ta gặp những quán trà Huế mọc lên đây đó dưới một cây bàng, một cây me, một tàn dừa. một bụi tre…
Nói đến quán trà Huế phải nói đến trà trước nhất. Trà dùng cho việc pha trà hay nấu trà phải là trà tươi, hái cả lá lẫn đọt về phơi không qua một sự xấy lửa hay pha chế nào cả, ủ lại trong lá chuối khô để vào chỗ khô ráo. Trà Huế không biết có phải xuất xứ từ Huế hay không nhưng theo truyền tụng là xuất xứ từ đâu ngoài Bắc xa xôi vì Huế không phải là nơi có nhiều trà, mà Lâm Đồng trong miến Nam thì chưa được khai phá. Vậy tại sao có từ trà Huế?
Ngày xưa ông bà ta chưa có quan niệm rõ ràng về địa lý, chỉ biết ngoài kia là Huế, đi ra miền Trung, miến Bắc gọi là đi Huế, vì Huế là kinh đô, Huế là nơi vua ở còn xa nữa thì không biết. Do đó trà ngoài kia đem vô là trà Huế. Do đó có cụm từ “quán trà Huế”, và trà Huế để phân biệt với trà có pha chế thường do người Tàu sản xuất gọi là trà tàu.
Một buổi trưa hè, một khách bộ hành trên con đường gió bụi cảm thấy mệt mỏi, khát nước mà bắt gặp một quán trà Huế thì thú vị biết bao. Nhất là khách được tiếp đãi bỡi các chủ nhân cũng có thể là một bà đứng tuổi móm mém, vui vẻ, tánh tình hiền lành dễ mến, thì cũng có những nữ chủ nhân là những cô gái nam kỳ, tóc cột đuôi gà, cái áo túi củn cởn, vào tuổi trăng tròn đầy nhựa sống.
Khách bước vào quán được đón tiếp bằng một nụ cười rạng rỡ, một ánh mắt chân tình như người quen cũ. Khách
đã cảm thấy ấm lòng, lại thêm mùi thơm của dầu dừa mà cô chủ quán xức tóc gợi lên trong khách một tình quê hương dân tộc đậm đà. Chưa chi cô chủ quán đã nói với một giọng như quen nhau từ kiếp trước:
- Chèn đét ơi! Anh Hai đi đâu mà nắng dữ dậy. Dô quán em uống miếng trà Huế đi. Nè! lần sau đi, nhớ đem theo cây dù nghe hông, hông thôi em dận cho mà coi!
Khách vào ngồi trên một cái băng cây để trước quán. Quán trà Huế chỉ là một cái chòi, hai mái lá lợp trên mấy cây kèo mảnh khảnh gá trên bốn cây cột dầu vuông, chỉ đủ cho việc che mưa đở nắng, dựng bên lề đường dưới tàn một cây bàng. Trong quán một cái bàn cây choáng gần hết mặt bằng của quán. Trên bàn bày những tô ông rồng lau khô úp lên nhau, bên cạnh một cái kệ đựng mấy phong bánh in bọc giấy đỏ, mấy gói kẹo đậu phọng đường tán…lủng lẳng trên mấy cây cột những nải chuối già, chuối xiêm, chuối cau và những xâu cốm chùi gói tròn tròn bằng lá chuối khô
giống như những trái banh nhỏ.
Dưới chân bàn một nồi nước trà bằng đất khá to đang sôi bốc khói, đặt trên một hỏa lò đun bằng than miển (mủn) gáo, hay than đước.
- Anh Hai uống dới em một tô nước trà Huế nghen! Em pha dừa uống lắm.
Người khách hai tay nâng tô nước trà Huế, không biết vô tình hay cố ý khẻ đụng vào bàn tay cô hàng, và cũng không biết cô hàng có phật ý hay không mà chỉ thấy cô hàng nở một nụ cười để lộ hai đồng tiền sâu hóm hai bên má, vói tay lấy gói cốm chùi mở ra và đưa cho khách:
- Cốm em làm đó, bằng nếp ngon mua tuốt ở ngoài Bà Rịa lận, anh ăn rồi anh nhớ em cho mà coi.
Mùi thơm đặc trưng của trà Huế, vị ngọt và béo của cốm trộn dừa làm khách mát lòng mát dạ. Ăn gói cốm xong, uống tô trà Huế xong mà sau chưa thấy khách muốn tiếp tục con đường thiên lý. Áng chừng vẻ đẹp mộc mạc thôn dã, giọng nói chân tình, chan chứa vị nhỏng nhẻo ngọt ngào của cô hàng trà Huế đã có ma lực giữ người khách đường xa ở lại mãi nơi quán trà Huếnầy rồi chăng?
Hình ảnh quán trà Huế đây đó trên khắp nẻo đường đất nước và ngay cả trong nội thành Mỹ Tho, như đường vào Gò Cát, đường lên Bình Tạo ..ngay cả ở tại dốc Cầu Quay, nơi có một cầu tàu Lục Tỉnh, ngay cả tại cầu Bắc Rạch Miễu đầu đường De Castelneau, Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ…Những quán trà Huế đó không còn thấy nữa vào những năm cuối của 1940, nhưng hình ảnh quán trà Huế cùng với hình ảnh một bà lão Việt Nam móm mém nhai trầu, hình ảnh một cô gái thôn dã tóc thơm mùi dầu dừa, má núng đồng tiền vẫn còn trong ký ức của những người lớn tuổi của Mỹ Tho, như một kỷ niệm không phai.”
(Tác giả: Khuyết Danh)
__________________________----
Trời vào đông, trong tiết se lạnh tách trà làm ấm cả lòng! Ôm tách trà gọn trong lòng bàn tay tìm thêm hơi ấm, tôi nhớ về những tô trà Huế ngày xưa.
Không biết từ lúc nào tôi biết ba tôi thích trà Huế nhưng cứ cách vài buổi trưa, thấy vắng bóng ba tôi là tôi lại men ngõ nhỏ sang nhà ông Chín để tìm. Trăm lần như một, tôi thấy ba tôi ngồi uống trà bên chiếc bàn mặt đá cẩm thạch cùng với ông Chín. Đôi khi ba tôi uống trà ngoài bàn còn ông Chín thì đang đàn một bản đàn nào đó trong gian nhà trong. Trong trưa êm vắng, tiếng đàn của ông Chín nghe nhẹ nhàng khi ông dùng đàn Nguyệt, đôi khi réo rắc khi ông xử dụng đàn tranh và u uẩn, áo não với cây đàn bầu!
Ông Chín, tôi không thấy ông nhận học trò! Khác với chú Tư Tân có dạy học trò ca vọng cổ, người duy nhất tôi thấy thọ giáo được ngón đờn của ông Chín là người con gái duy nhất của ông bà Chín: cô Tư!
Tôi nhớ, những khi ba tôi sang nhà ông Chín, bà Chín thường rót cho ba tôi một chén trà nóng. Có 2 điều làm tôi thắc mắc từ hồi nhỏ về thức uống mà dùng chén hay tô để đựng thay vì dùng tách hay ly: chén cà phê theo kiểu Pháp (ít ra là trong những bức hình từ các quyển sách Pháp tôi được đọc hồi đó) và tô trà Huế!
Tô cà phê, tôi chưa tìm được người để hỏi hoặc sách để đọc hiểu; còn tô trà Huế thì như bạn thấy: bài viết trên kia chỉ giải thích về cái tên trà Huế chứ cũng không đề cập đến nguyên nhân dùng tô, mặc dù trong bài có đoạn cho ta thấy cô chủ quán múc cho "Anh Hai" tô trà! Tôi độ chừng các quán trà Huế hồi đó thường là những quán bên đường, mà trà thì thường là nóng nên múc vô tô ít bị bể như trường hợp rót ra ly thuỷ tinh có nhiều bọt, gặp sức nóng từ trà sẽ bị tức và bể gây phỏng cho khách chăng? thêm một lý do là các loại chén đá bình dân thực dụng hằng ngày có giá khá rẻ, mà quan trọng nhất là chén có "khu" dễ cho khách dùng làm điểm tựa tránh cho các ngón tay bị nóng lúc bưng lên uống? Còn cái tách thì nhỏ quá, mà lại là món đồ dùng 'tân thời' trong các gia đình Tân học lúc bấy giờ, làm sao thích hợp với người khách hàng bình dân của quán nước? Trong trí tôi còn nhớ có khi cái tô đó là cái tô chiết yêu nữa kìa!
Thôi dù là vì lý do gì mà trà Huế thường được múc vào chén, vào tô thì tô trà Huế bình dân trong trí nhớ tôi vẫn là tô trà mộc mạc thoang thoảng mùi gừng, tuy không được múc ra từ chiếc om đất trong quán bên đường nhưng bù lại trong vị chát thơm của tô trà Huế ba tôi thường thức trong những buổi trưa tại nhà ông Chín lại điểm chút thanh cao nhẹ nhàng trong tiếng réo rắc của cung nhịp ngũ âm từ những nhạc khí cổ truyền Việt Nam, đôi khi được thêm giọng ca của cô Tư hoà vào tạo thành chút thi vị cho tô trà Huế bình dân trong ký ức!
Không biết từ lúc nào tôi biết ba tôi thích trà Huế nhưng cứ cách vài buổi trưa, thấy vắng bóng ba tôi là tôi lại men ngõ nhỏ sang nhà ông Chín để tìm. Trăm lần như một, tôi thấy ba tôi ngồi uống trà bên chiếc bàn mặt đá cẩm thạch cùng với ông Chín. Đôi khi ba tôi uống trà ngoài bàn còn ông Chín thì đang đàn một bản đàn nào đó trong gian nhà trong. Trong trưa êm vắng, tiếng đàn của ông Chín nghe nhẹ nhàng khi ông dùng đàn Nguyệt, đôi khi réo rắc khi ông xử dụng đàn tranh và u uẩn, áo não với cây đàn bầu!
Ông Chín, tôi không thấy ông nhận học trò! Khác với chú Tư Tân có dạy học trò ca vọng cổ, người duy nhất tôi thấy thọ giáo được ngón đờn của ông Chín là người con gái duy nhất của ông bà Chín: cô Tư!
Tôi nhớ, những khi ba tôi sang nhà ông Chín, bà Chín thường rót cho ba tôi một chén trà nóng. Có 2 điều làm tôi thắc mắc từ hồi nhỏ về thức uống mà dùng chén hay tô để đựng thay vì dùng tách hay ly: chén cà phê theo kiểu Pháp (ít ra là trong những bức hình từ các quyển sách Pháp tôi được đọc hồi đó) và tô trà Huế!
Tô cà phê, tôi chưa tìm được người để hỏi hoặc sách để đọc hiểu; còn tô trà Huế thì như bạn thấy: bài viết trên kia chỉ giải thích về cái tên trà Huế chứ cũng không đề cập đến nguyên nhân dùng tô, mặc dù trong bài có đoạn cho ta thấy cô chủ quán múc cho "Anh Hai" tô trà! Tôi độ chừng các quán trà Huế hồi đó thường là những quán bên đường, mà trà thì thường là nóng nên múc vô tô ít bị bể như trường hợp rót ra ly thuỷ tinh có nhiều bọt, gặp sức nóng từ trà sẽ bị tức và bể gây phỏng cho khách chăng? thêm một lý do là các loại chén đá bình dân thực dụng hằng ngày có giá khá rẻ, mà quan trọng nhất là chén có "khu" dễ cho khách dùng làm điểm tựa tránh cho các ngón tay bị nóng lúc bưng lên uống? Còn cái tách thì nhỏ quá, mà lại là món đồ dùng 'tân thời' trong các gia đình Tân học lúc bấy giờ, làm sao thích hợp với người khách hàng bình dân của quán nước? Trong trí tôi còn nhớ có khi cái tô đó là cái tô chiết yêu nữa kìa!
Thôi dù là vì lý do gì mà trà Huế thường được múc vào chén, vào tô thì tô trà Huế bình dân trong trí nhớ tôi vẫn là tô trà mộc mạc thoang thoảng mùi gừng, tuy không được múc ra từ chiếc om đất trong quán bên đường nhưng bù lại trong vị chát thơm của tô trà Huế ba tôi thường thức trong những buổi trưa tại nhà ông Chín lại điểm chút thanh cao nhẹ nhàng trong tiếng réo rắc của cung nhịp ngũ âm từ những nhạc khí cổ truyền Việt Nam, đôi khi được thêm giọng ca của cô Tư hoà vào tạo thành chút thi vị cho tô trà Huế bình dân trong ký ức!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét