Tôi sinh ra mang theo trên mép phải 1 nốt ruồi, nốt ruồi mà các ông bà mình hay gọi là nốt ruồi ăn hàng. Lớn lên mỗi khi lê la ngoài xóm về, tôi thường bị má tôi rầy:
- Con nhỏ này nó ăn hàng như miệng có quai xách! Hèn gì mà nó có cái mụt ruồi ăn hàng!
Oan cho tôi biết chừng nào! Mụt ruồi đó tôi đâu có tự mình chấm lên mép? Với lại, tôi ăn hàng trong đó phần lớn là do lỗi của ba má tôi! Chớ còn gì nữa! Hình hài tôi do ba má tạo dựng, trong đó có cả cái nốt ruồi! Rồi ai biểu ba má tôi tạo dựng cơ ngơi ngay trong xóm nhỏ này, nơi mà buổi sáng, trưa hay chiều gì cũng có những gánh hàng hay sạp hàng với những món ngon ác liệt! Thế thì, định mệnh đã an bài!!!!
Buổi sáng, tôi hay kể với các bạn về món bánh căn của bà Tư tôi, các món miền Nam của dì Ba Lem. Nhưng như tôi đã nói: xóm tôi có nhiều điều để con Bảy nhỏ nhỏ đó ghi kỹ trong đầu, trong lòng nó mà nay khi thành bà Bảy tự dưng chuyển mình trở dậy thành kỷ niệm, hay như bạn trẻ nói: thành hoài niệm!
Trong xóm tôi có một khoảnh đất trống, chắc thuộc về ngôi chùa (đúng là là miếu) nhỏ thờ Bà Linh Sơn trong xóm nên không ai chiếm dụng để cất nhà cửa chi hết. Khoảnh đất đó bao quanh bởi các căn nhà trong xóm và được tráng xi măng chứ không bỏ loang lổ đất mộc! (nhà thầy Hai hồ nước cũng nằm ngó ra khoảng đất này). Trong mùa cúng đình tâ ơn Bà Linh Sơn đã phù hộ cho dân cư trong xóm được bình an và làm ăn đủ sống trong năm, người trong xóm góp công dựng rạp và mời ban hát bội gồm các thành viên của Ban Vân Hạc do cô Ba Út làm chủ quản về hát 3 đêm trả lễ dâng Bà. Ngoài 3 đêm cúng đình đó, khoảng đất là nơi các người bán thức ăn cho bà con trong xóm dọn hàng - Và chính là nơi tôi tung hoành hồi nhỏ!
Các món ăn sáng (và ăn vặt!) trong xóm tôi đương nhiên gắn liền với người đã nấu ra món đó; trong những người bán đó, có một bà xẩm già - Danh xưng Xẩm này không có ngụ ý xấu mà là trại âm của chử thiếm theo âm Tàu, dùng để gọi người đàn bà trung niên Tàu, có khi gọi vừa âm Nôm vừa âm Hán là thiếm xẩm!- chỉ bán vào buổi sáng. Bà không phải người trong xóm và gánh hàng của bà rất giàn dị: Ở hai đầu quang gánh là 2 cái thúng, trên thúng có lót 1 cái sàng tre trên dó có 1 một món ăn.
Tôi thích ăn món của bà vì vừa rẻ vừa lạ miệng so với các món Việt kia. Tôi còn nhỏ chưa biết nhận xét nhiều, khi lớn lên mới nhớ lại các món ăn của bà thường là món Tiều Châu, như vậy chắc bà là người gốc Tiều! Chỉ có thể bán hai món mỗi ngày nhưng các món ăn của bà thường thay đổi: khi thì món mì hay bún gạo xào theo kiểu bình dân với giá hẹ và trừng xắt mỏng cùng với lác đác tôm khô, khi thì bánh hẹ, khi thì bánh ướt Tiều Châu....nhưng đặc biệt là món bánh đúc mặn Tiều Châu!
Trong các món của bà thì món bánh ướt Tiều của bà tôi không mặn, không phải vì bánh dở mà vì ngay trong xóm tôi có 2 gia đình người Tàu có lò đổ bánh ướt Tiều Châu rất ngon, cái ngon đó có được là nhờ mua ngay tại lò, thấy được cách họ đổ bánh và mua được bánh nóng về chỉ cần chấm với nước tương thêm chút ớt vô là ăn quên đếm bánh!
Tới bây giờ khi ngồi gõ những dòng này kể chuyện bạn nghe, tôi còn hình dung ra được bà Xẩm, chuyên mặc bộ xá xẩu màu đen, hai vạt áo dài quá nữa đùi bà, đầu đội nón tre Tàu khác với nón lá Việt mình, nhìn giống vầy:
Image has been scaled down 51% (640x471). Click this bar to view original image (1300x956). Click image to open in new window.
Hình: Internet
Đặc biệt, bà mang đôi dép kiểu Tàu, giống giống như đôi dép râu hồi xưa của miền Bắc. Loại dép đó nay chắc đã không còn hiện diện, bởi tôi tìm suốt trên internet mà chẳng thấy tấm hình nào tương đương! Và đặc biệt nữa, khi bà cười lộ ra mấy chiếc răng vàng chói. Trông bà, rất Tàu! Không lẫn vào đâu được!
Hề gì Tàu hay Việt! khi mà những món ăn Tàu của bà làm phong phú thêm phần cảm nhận của vị giác tôi từ thuở nhỏ! Bây giờ tôi nhớ thêm rằng: tuy món ăn Tàu, nhưng chưa bao giờ tôi nhớ bà chan thêm bằng nước tương mà tôi nhớ: bà có 1 chai nước mắm pha, gắp bún mì hay xắn bánh đúc xong, luôn luôn bà nắm cổ chai nước mắm lên, xốc xốc vài cái cho lớp ớt và tỏi nằm đưới đáy chai trồi đều lên và xịt vô dĩa thức ăn!!! Đây có phài là một người Tàu tha hương đã thấm đậm chất Việt của vùng đất cưu mang bà và gia đình bà? Tôi không biết, nhưng tôi biết tôi thấy ấm lòng biết bao nhiêu khi tôi nhớ lại điều này!
"Buổi trưa sinh hoạt trong xóm có phần lắng dịu, ánh nắng gay gắt đổ xuống con đường hẻm. Bà bánh cuốn đặt gánh xuống trước nhà tôi, ngồi phe phẩy cái nón lá. Từ hồi lớn lên tới tới giờ, tôi vẫn thấy bà với cái gánh. Một bên thúng ngăn làm ba, ngăn để những lớp bánh cuốn, ngăn để bún, ngăn rau; thúng bên kia lủ khủ tô bì, những chiếc nem, cây chả lụa, hủ ớt, keo nước mắm, keo đồ chua, chén đậu phộng, tóp mỡ, lon đủa...Khi không có khách hàng, bà ngồi tư lự, sửa lại vành khăn nhung cũ mèm. Sau ngày "giải phóng" tôi cứ lẩn thẩn tưởng tượng một buổi đẹp trời, đang ngồi xắt bánh cuốn chợt có một anh bộ đội đứng trước mặt bà, kêu lên mừng rỡ:
- Thưa mẹ (hay thưa mợ, hay thưa u), con đây!
Rồi thì vui vẻ đoàn tụ, để bà được dẹp cái gánh hàng, về nhà sống với con, với dâu, với cháu. Thấy bà còm cõi buồn rầu, sáng sáng gánh hàng qua nhà tôi, rảo vào xóm, rồi trưa trưa ngồi nghĩ dưới bóng cây dừa, bất nhẫn quá. Nhưng có lẽ con bà chưa kịp vào hay tìm bà chưa ra (Gần 30 năm bặt tin, tìm một bà già trong đám đông mười sáu triệu người -mười bảy triệu trừ đi năm trăm ngàn "tay sai" bam đuôi Mỹ, không phải dễ). Hay anh đã chết vì bom đạn trên một quãng đường nào đó, chưa kịp mừng chiến thắng, chưa kịp gặp mẹ già? Nên tôi vẫn thấy bà buồn rầu, còm cõi đi ngang...
- Thưa mẹ (hay thưa mợ, hay thưa u), con đây!
Rồi thì vui vẻ đoàn tụ, để bà được dẹp cái gánh hàng, về nhà sống với con, với dâu, với cháu. Thấy bà còm cõi buồn rầu, sáng sáng gánh hàng qua nhà tôi, rảo vào xóm, rồi trưa trưa ngồi nghĩ dưới bóng cây dừa, bất nhẫn quá. Nhưng có lẽ con bà chưa kịp vào hay tìm bà chưa ra (Gần 30 năm bặt tin, tìm một bà già trong đám đông mười sáu triệu người -mười bảy triệu trừ đi năm trăm ngàn "tay sai" bam đuôi Mỹ, không phải dễ). Hay anh đã chết vì bom đạn trên một quãng đường nào đó, chưa kịp mừng chiến thắng, chưa kịp gặp mẹ già? Nên tôi vẫn thấy bà buồn rầu, còm cõi đi ngang...
(Trích truyện ngắn Xóm nhỏ buổi trưa trong tuyển tập truyên ngắn Mùa hè, một nơi khác của nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến)
Tôi cũng có 1 bà Bắc bán bánh cuốn, bà Bắc bán bánh cuốn của tôi bán vào buổi trưa. Bà hay bận áo cánh trắng với chiếc quần đen, tóc trên đều cũng quấn trong chiếc khăn nhung đen bạc màu vì dãi dầu trưa nắng cùng bà qua những buổi trưa! Khác với bà Bắc của nhà văn Phan thị Trọng Tuyến, gánh hàng của bà Bắc tôi không có những món nhứ bún, bì, nem.....bán bánh cuốn đâu cần những món ấy! Bánh cuốn của bà Bắc tôi, được hấp nóng trong chiếc nồi nằm một bên gánh, bánh hấp từng ít một chứ không hấp quá nhiều sợ bán không kịp bánh sẽ bị nhảo! Bên quanh kia bà xếp khéo léo chả lụa, giá trụng trộn với rau thơm, một ít dĩa nho nhỏ, một chai nước mắm nấu trong khe! Bánh cuốn (mà tôi kêu là bánh ướt để phân biệt với ánh cuốn là bánh có nhân) người Bắc chính cống chỉ có thế thôi! Bên dưới mâm này là 1 cái thau nhỏ chứa nước để rửa dĩa!
Giọng bà rao mệt mỏi, nhẹ nhẹ trong buổi trưa không mời gọi được nỗi thèm ăn của người trong xóm. Tôi cũng vậy, không phải tôi biết ngán vì bao nhiêu dĩa bà chỉ rửa trong 1 cái thau nước. Mà món bánh cuốn chân đơn của bà làm sao ganh nổi với các xe bánh ướt ngoài đường Lê Thánh Tôn gần chợ Sài Gòn kia? chỉ cần 1 cuốc xích lô ngắn là tôi có thể diện quần áo đẹp ra đó vừa ăn vừa ngắm nhìnn trai thanh gái lịch của Sài Gòn đang rảo phố, qua lại như đèn cù, thêm mâm bánh cống vàng lườm cao nghệu được chất lên bán kèm với bánh ướt khêu gợi vị giác tôi gấp trăm lần cái dĩa bánh cuốn mộc mạc chỉ có vài lát chả của bà!
Cho đến khi đọc được bài văn trên mười mấy năm trước, trên xứ Úc. Tôi mới thấy ngậm ngùi! Tôi tiếc phải chi hồi đó tôi nghĩ xa hơn, ăn giúp bà một vài dĩa chắc cũng giúp bà về nhà sớm hơn vài phút tránh khỏi cái nắng Sài Gòn buổi trưa! Để bây giờ mỗi khi chợt động lòng nhớ lại, tôi không bị hình bóng bà cầm chiếc kim châm vài phát vào tim, tuy không rướm máu nhưng cũng đủ nao lòng!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét